Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2022

Sao Tham Lang

 Sao Tham Lang trong lá số Tử Vi chính là hóa thân của Đắc Kỷ - một người đàn bà xinh đẹp nhưng dâm đãng, lẳng lơ bên cạnh Trụ Vương. Chính vì vậy, sao Tham Lang tượng trưng cho mẫu người nhiều dục vọng, có khả năng nghệ thuật, ưa chơi bời, đa dục, tửu sắc. Tuy nhiên còn phải xét thêm về vị trí và các trung tinh đi kèm Thang Lang trong một lá số.

 Tham lang thuộc Dương Mộc, khí thuộc thủy, ví như Tình Dục và Vật Dục, còn gọi là Chính Đào Hoa, nếu được chế hóa thì vẫn có thể tốt. Nếu được chế hóa, tình dục vật dục đặt được cân bằng, mà lại được cát tinh hội hợp thì là cao cách vậy. Nếu không được chế hóa mà lại gặp sát tinh hội hợp, không cần biết là thiên về tình dục hay vật dục, nhưng đều có khuyết điểm.

Hóa Lộc gia tăng vật dục còn Hóa kỵ thì giảm bớt dục vọng. Tử Tham mà được Tả Hữu Xương Khúc là được chế hóa, Vũ Tham mà được Hỏa Linh là được chế hóa, nếu lại hội được Cát Tinh, Cát Hóa, có thể làm đại tướng, uy chấn biên cương.Liêm Tham ngộ Không, Thiên hình, Hóa kỵ là được chế hóa, có khả năng tình dục mạnh, thơ rượu phong lưu mà biến thành văn nghệ, nghệ thuật.Nếu không được chế hóa mà lại gặp Kình Dương, Đà La thì vì sắc mà rước họa.

Tham lang cũng là chủ biến, nhưng cái biến của nó là “đổi thang mà không đổi thuốc” (chỉ thay đổi cái vỏ bề ngoài mà bản chất thì không đổi), mượn màu son phấn để che giấu toan tính.Tham Lang cũng là một tay giao tiếp đối đáp thiện nghệ, nhưng cái ứng đối của nó phần nhiều là ở tửu sắc phong lưu. Cũng đôi khi thích các sự vật thần bí, thuộc loại quỷ quỷ quái quái, nhưng cái sở thích của nó là loại đông tây thần bí, mà tịnh không phải là nghiên cứu chuyên sâu.Cũng dựa trên tính chất tương đối của Tham Lang, nếu gặp được Xương Khúc, ngộ Không, cũng với Thiên Hình có thể phát huy tiềm năng nghệ thuật của Tham Lang.

Đặc điểm sao Tham Lang

- Phương Vị: Bắc Đẩu Tinh

- Tính: Âm

- Hành: Mộc

- Loại: Hung Tinh, Dâm Tinh

- Chủ về: Họa phúc, uy quyền

- Tượng cơ thể: Ngực, Nách

- Tên gọi tắt: Tham

Vị trí Tham Lang ở các Cung

- Miếu địa: Sửu, Mùi.

- Vượng địa: Thìn, Tuất.

- Đắc địa: Dần, Thân.

- Hãm địa: Tỵ, Hợi, Tý, Ngọ, Mão, Dậu.

Tham Lang là Sao thứ 3 thuộc chòm Thiên Phủ và cũng là sao chính trong 14 chính tinh. Chòm Thiên Phủ hợp cùng Chòm Tử vi sẽ tạo thành 14 chính tinh. Chòm Thiên Phủ bao gồm các sao an theo Thiên Phủ: Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.

Tham Lang ở cung Mệnh

Ý nghĩa ngoại hình, tướng mạo, tính cách:


+ Cung Mệnh có Tham Lang miếu, vượng hay đắc địa tọa thủ, nên thân hình cao lớn, đẫy đà, da trắng, mặt đầy đặn, lông tóc, râu rậm rạp, có ẩn tinh, (Miếu địa: có nốt ruồi kín) khá thông minh, tính trung hậu, nhưng hiếu thắng và tự đắc, ưa hoạt động, có óc kinh doanh, có tài tổ chức, lòng tham dục không bờ bến, hay, mưu tính những việc to lớn, làm việc gì cũng muốn chóng xong, nhưng chỉ chuyên cần siêng năng buổi đầu, rồi về sau sinh lười biếng, chán nản và bỏ dỡ, lại thích lui tới những chỗ đông người ồn ào thích ăn ngon mặc đẹp, choi bời cho thỏa chí.

+ Tham hãm địa, nên thân hình cao vừa tầm, hơi gầy da thô xấu, mặt dài, không được đầy đặn, tiếng nói to, kém thông minh.

+ Tham hãm địa, Tý, Ngọ, Tỵ, Hợi là người gian hiểm, tham lam, có nhiều dục vọng, cũng có kinh doanh nhưng không quả quyết, không bền chí, lại thêm tính dâm dật, chơi bời hoang đãng.

- Nam mệnh

+ Tham miếu, vượng hay đắc địa thủ Mệnh, gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, là người tài giỏi thao lược, thường hiển đạt về võ nghiệp, tất được hưởng phú qúy đến tột bậc, có uy danh lừng lẫy và phúc thọ song toàn.

+ Tham hãm địa gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, thật là chung thân cùng khốn cô đơn, phải lang thang phiêu bạt, có nhiều bệnh tật khó chữa, hoặc ở mắt, hoặc ở bộ tiêu hóa, hoặc ở bộ phận sinh dục, thường mắc những tai nạn khủng khiếp, chân tay thường bị vướng vào xích xiềng, yểu tử.

- Nữ mệnh

+ Tham miếu, vượng hay đắc địa tọa thủ Mệnh, là người tài giỏi, đảm đang, gan góc, bạo tợn, hay ghen tuông, nhưng hưởng giàu sang và sống lâu. Nếu Tham gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, tất được hưởng phú qúy đến tột bậc, phúc thọ song toàn.

+ Tham hãm địa, phải muộn lập gia đình, hay lấy kế lấy lẽ mới tránh được mấy độ buồn thương.

+ Tham hãm địa, Tý, Ngọ, Tỵ, Hợi là người gian tham hiểm độc, dâm dật, hay lăng loàn, suốt đời vất vả, có nhiều bệnh tật, thường mắc những tai nạn đáng lo ngại, nếu không sớm ly tổ, tất không thể sống lâu được.

+ Tham hãm địa gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, thật là chung thân cùng khốn cô đơn, khắc chồng hại con, phải lang thang phiêu bạt, lại có nhiều bệnh tật khó chữa, hoặc ở mắt, hoặc ở bộ tiêu hóa, hoặc ở bộ sinh dục, thường hay mắc những tai nạn khủng khiếp và dĩ nhiên là yểu tử.

Ý nghĩa công danh tài lộc

+ Sao Tham Lang ở cung đắc địa trở lên thì giàu sang. Nhưng vì Tham Lang là sao Bắc Đẩu nên càng về già càng thịnh vượng, an nhàn, sung sướng. Nếu có thêm cát tinh, thì mức tài lộc, công danh càng tăng. Nếu đồng cung với Kỵ thì buôn bán giàu có.

+ Tham miếu, vượng hay đắc địa, tất được hưởng giàu sang và sống lâu.

+ Tham miếu địa, lúc thiếu thời vất vả, chẳng mấy khi được xứng ý toại lòng. Nhưng từ ngoài 30 tuổi trở đi, thật là phú qúy song toàn và càng về già lại càng sung sướng an nhàn.

+ Tham miếu, vượng hay đắc địa gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, nhất là Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc hay Hỏa Linh đắc địa, chắc chắn là được hưởng phú qúy đến tột bậc, có uy quyền hiển hách, danh tiếng lừng lẫy và sống lâu.

+ Tham vượng địa, gặp Kỵ hoặc đồng cung hoặc xung chiếu, tất buôn bán, kinh doanh mà nên giàu có.

+ Tham Lang hãm địa Tý, Ngọ, Hợi thường là người đi theo nghề kỹ nghệ, thủ công, hay đi buôn nhưng suốt đời lao khổ, hay bị phá ngang bỏ dở nửa chừng, nửa đời sau mới có chút danh phận, sự nghiệp.

Ý nghĩa phúc thọ tai họa

+ Tham hãm địa Mão Dậu là người yếm thế, làm việc gì cũng thất bại, và hay gặp những sự chẳng lành. Chỉ có tu hành mới mong được yên thân và hưởng phúc thọ.

+ Tham hãm địa gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, nhất là Sát tinh, Kỵ, Hình thật là chung thân cùng khốn cô đơn, phải lang thang phiêu bạt, có nhiều bệnh tật khó chữa, hoặc ở mắt, giọng ở bộ tiêu hóa, hoặc ở bộ sinh dục, thường mắc những tai nạn khủng khiếp, chân tay thường bị vướng vào xích xiềng, và dĩ nhiên là yểu tử.

+ Tham, dù miếu, vượng, đắc hay hãm địa, hoặc gặp Kỵ đồng cung, hoặc gặp Riêu đồng cung, tất hay bị bắt bớ giam cầm, nếu không, thật là khó tránh thoát được tai nạn sông nước.

Những Bộ Sao Tốt

Tham Lang, Hỏa Tinh đồng cung miếu địa hay Tham Lang, Linh Tinh đồng cung miếu địa: phú quí tột bậc, danh tiếng lừng lẫy. Rất hiển đạt về võ nghiệp. Rất tốt cho hai tuổi Mậu Kỷ vì ứng hợp với cách này.

Tham Lang ưa Tả, Hữu, Khôi, Việt; không ưa Xương – Khúc.

Tham Lang, Trường Sinh ở Dần Thân: Sống rất lâu.

Tham Lang, Vũ Khúc đồng cung ở Tứ mộ: thì ngoài 30 tuổi công danh, sự nghiệp mới có sự tiến triển tốt đẹp, làm nên sự nghiệp nhưng phải có thêm cát tinh nhiều ở Mệnh. Nếu thêm cả Hỏa Linh thì rất quí hiển. Nhưng nếu cung Thân ở Tứ mộ có Tham Vũ thì lại là hạ cách, không quí hiển được, nhất là thiếu cát tinh.

Các cách trên nếu có thêm sao tốt như Khoa, Quyền, Lộc, Xương, Khúc, Tả, Hữu thì rất tốt cả về công danh, tài lộc, phúc thọ, tâm tính.

Những Bộ Sao Xấu

Tham Lang, Vũ Khúc đồng cung gặp Phá Quân: Lụy thân vì sa đọa tửu, sắc.

Tham Lang, Liêm Trinh đồng cung ở Tỵ, Hợi: Con trai đàng điếm, du đãng, con gái dâm dật đĩ thõa, giang hồ. Chỉ có sao Hóa Kỵ hay Tuần Triệt mới hóa giải được bất lợi này.

Tham Lang, Liêm Trinh ở Dần Thân gặp Văn Xương đồng cung: Phải có phen bị tù hình khổ sở (nếu thiếu sao giải).

Tham Lang, Liêm, Tuyệt, Linh đồng cung: Suốt đời cùng khổ, hoặc chết non, bệnh chết hụt, vợ chồng lấn lướt, bất hòa (phong).

Tham Lang, Liêm, Kình, Kiếp Không, Hư Mã: Suốt đời cùng khổ, hoặc chết non, bệnh chết hụt, vợ chồng lấn lướt, bất hòa (phong).

Tham Lang, Kình (hay Đà đồng cung) ở Tý Hợi: Giang hồ, lãng tử, chơi bời lang thang hay hoang đàng. Nếu ở Dần thì còn bị đánh đập vì chơi bời.

Tham Lang, Thất Sát: Trai trộm cướp, gái giang hồ; nếu thêm hung tinh thì nguy hiểm càng tăng.

Tham Lang, Thất Sát, Tang Môn, Bạch Hổ ở Dần, Ngọ: Bị sét đánh, thú cắn.

Tham Lang, Không Kiếp ở Mão Dậu: Đi tu phá giới.

Tham Lang Đào, Tham Lang Hồng hay Tham Lang Liêm: Dâm đãng, lăng loàn. (Nếu gặp Tuần Triệt hoặc Thiên Hình đắc địa thì đoan chính).

Tham gặp Song hao thì dâm đãng song không bộc lộ ra ngoài (Chôn dấu tâm tình dưới đáy giếng)

Tham Lang ở Cung Phụ Mẫu

- Bất cứ tại vị trí nào cũng sớm khắc một trong hai thân. Nếu không, cũng phải xa cách hai thân.

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất: cha mẹ giàu có, nhưng con không được thừa hưởng. Trong nhà thiếu hòa khí.

- Đơn thủ tại Dần, Thân: hai thân túng thiếu, bất hòa, hay xa cách nhau, cha mẹ không hợp tính con.

- Đơn thủ tại Tý, Ngọ: cha mẹ bình thường. Trong nhà thiếu hòa khí. Nên làm con nuôi họ khác.

- Tử đồng cung: cha mẹ bình thường. Nên làm con nuôi họ khác. Nếu không, tất sớm xa cách một trong hai thân.

- Liêm đồng cung: cha mẹ khốn cùng hay mắc tai ương và xa cách nhau. Sớm lìa bỏ hai thân.

- Vũ đồng cung: cha mẹ giàu, nhưng con không hợp tính cha mẹ. Trong nhà thiếu hòa khí.

Tham Lang ở Cung Phúc Đức

- Âm phần: Tham Lang: mộ tổ xa đời (thường là sáu hay bảy đời). đất nổi cao như hình con chó ngồi, sắc đen như bùn có nhiều cây cỏ mọc rậm rạр.

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất: được hưởng phúc. Về già rất sung sướng. Trong họ nhiều người giàu có, nhưng thường lập nghiệp ở nơi thật xa quê hương.

- Đơn thủ tại Dần, Thân: Không được hưởng phúc dồi dào, nhưng cũng sống lâu. Họ hàng bình thường, có nhiều người lập thân bằng võ nghiệp.

- Đơn thủ tại Tý, Ngọ: bạc phúc nên giảm thọ. Phải lập nghiệp ở xa quê hương, phải sớm xa gia đình mới mong được yên thân. Họ hàng ly tán, càng ngày càng sa sút, lại có nhiều người rất dâm đãng.

- Tử đồng cung: suốt đời chẳng được xứng ý toại lòng, giảm thọ vì bạc phúc. Họ hàng ly tán, người nào khá giả lại chết sớm.

- Liêm đồng cung: giảm thọ, khó tránh được tai ương, họa hại. Trong họ có nhiều người bần hàn hay mắc tù tội, thường phải bạt quán xiêu cư.

- Vũ đồng cung: được hưởng phúc sống lâu. Về già, lại càng xứng ý toại lòng. Trong họ thường có người giàu sang hay hiển đạt về võ nghiệp.

Tham Lang ở Cung Điền Trạch

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất: phá tán tổ nghiệp, hay phải lìa bỏ tổ nghiệp. Nhưng về sau mua tậu khá nhiều nhà đất.

- Đơn thủ tại Dần, Thân, Tý, Ngọ: nếu có nhà đất của tổ nghiệp để lại, rồi cũng phá tán hết hay là phải lìa bỏ mà không được thừa hưởng. Gây dựng cơ nghiệp rất vất vả, chật vật may mắn lắm về già mới có nhà ở chắc chắn.

- Tử đồng cung: không gìn giữ được tổ nghiệp, về sau sa sút

- Liêm đồng cung: nhà đất của tổ nghiệp để lại khá nhiều, nhưng không được thừa hưởng. Về già cũng không có nơi an chốn ở chắc chắn.

- Vũ đồng cung: có nhà đất của có nghiệp để lại nhưng rất ít, không đáng kể. Tự tay lập nghiệp. Tuy vậy, phải ngoài ba mươi tuổi, mới có nhà đất chắc chắn.

Tham Lang tại cung Quan Lộc

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất: võ nghiệp hiển đạt. Nếu buôn bán kinh doanh, cũng được xứng ý toại lòng.

- Đơn thủ tại Dần, Thần: có chức vị quân sự nhưng nhỏ thấp. Suốt đời không được toại nguyện. Công danh trắc trở nhưng nếu buôn bán lại phát đạt.

- Đơn thủ tại Tý, Ngọ: chức vị nhỏ thấp, thăng giáng thất thường, là hạng tham quan ô lại

- Tử đồng cung: bình thường. Nếu công danh rực rỡ, tất sinh tai họa.

- Liêm đồng cung: có võ chức, nhưng nhỏ thấp. Trên đường công danh thường gặp nhiều trở ngại, tai ương, nhất là hình ngục. Chỉ có lánh mình ra khỏi chỗ lợi danh, mới được an toàn.

- Vũ đồng cung: giàu có và thành công trong việc kinh doanh, buôn bán. Nếu có danh chức, cũng chỉ sau một thời gian ngắn lại trở về thương trường. Lúc thiếu thời mọi sự chẳng được hành thông, từ 30 tuổi trở đi, mới được xứng ý toại lòng.

Tham Lang ở Cung Thiên Di

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất: dễ kiếm tiền, hay gặp qúy nhân.

- Đơn thủ tại Tý, Ngọ: ra ngoài rất bất lợi, hay gặp những sự phiền lòng, sau này chết ở xa nhà.

- Đơn thủ tại Dần, Thân: hay mắc tai nạn, xa nhà rất bất lợi.

- Tử đồng cung: rời khỏi nhà hay gặp những sự phiền lòng, may ít rủi nhiều, thường có kẻ tiểu nhân theo dõi quấy rối. Sau này chết ở xa nhà.

- Vũ đồng cung: buôn bán phát tài, trước khó sau dễ, hay gặp sự cạnh tranh ráo riết.

- Liêm đồng cung: ra ngoài bất lợi, hay gặp những tai ương bất kỳ, nhất là về hình ngục hay kiện tụng. Quý nhân ít gặp, còn tiểu nhân, ác nhân, lúc nào cũng sẵn sàng làm hại.

Tham Lang ở Cung Tật Ách

- Đơn thủ tại Dần, Thân: bệnh ở chân

- Đà đồng cung tại Dần, Thân: mắc tai nạn xe cộ hay bị súc vật cắn đá, nếu không, cũng vì ăn uống mà sinh bệnh khó chữa.

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất: thú dữ cắn đá, nếu không, cũng mác tai nạn xe cộ rất nguy hiểm.

- Hổ đồng cung tại Tuất: thú dữ cắn chết

- Đơn thủ tại Tý, Ngọ: chơi bời mà mắc bệnh.

- Kỵ đồng cung: tai nạn sòng nước.

- Lương, Kỵ: mác kiện cáo tù tội.

- Riêu đồng cung: mắc tai nạn sông nước, hay mang bệnh phong tình.

Tham Lang ở Cung Tài Bạch

- Đơn thủ tai Thìn, Tuất: hoạnh phái tiền tài, kiếm tiền nhanh chóng và dễ dàng, càng về già càng giàu có.

- Đơn thủ tại Tý, Ngọ: hoang phí, chơi bời nên hao tán, suốt đời túng thiếu.

- Đơn thủ tại Dần, Thân: tiền vào tay này sang tay kia.

- Tử đồng cung: bình thường, được hưởng của hương hỏa để lại, nhưng về sau cũng suy kém.

- Liêm đồng cung: túng thiếu, suốt đời khổ sở vì tiền. Hay mắc tai họa vì tiền, nhất là kiện tụng và hình ngục.

- Vũ đồng cung: từ ngoài 30 trở đi, mới giàu.

Tham Lang ở Cung Tử Tức

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất: sinh nhiều nuôi ít. May mắn lắm mới có ba con. Con bất hiếu, bất mục, xung khắc với cha mẹ.

- Đơn thủ tại Dần, Thân: nhiều nhứt là hai con. Sau con cũng hiển đạt, nhưng không hợp tính với cha mẹ.

- Đơn thủ lại Tý, Ngọ: sinh nhiều nuôi ít. May mắn lắm mới có một con. Nhưng con chơi bời hư hỏng, lúc bé khó nuôi, lớn lên lại khó dạy.

- Coi Tử Vi (Tham đồng cung) – Liêm Trinh (Tham đồng cung) – Vũ Khúc (Tham đồng cung).

Tham Lang ở Cung Phu Thê

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất: trai lấy được vợ giàu, tài giỏi nhưng hay ghen, gái lấy được chồng sang nhưng hay chơi bời. Nên muộn lập gia đình để tránh những hình khắc hay chia ly.

- Đơn thủ tại Dần, Thân: trai lấy phải vợ hay ghen và dâm đãng. Gái lấy phải chồng nghèo hay hoang đãng lưu manh. Nên muộn đường hôn phối, vì dễ gặp nhau để rồi lại dễ xa nhau, hay hình khắc nhau.

- Đơn thủ tại Tý, Ngọ: nhận xét như trên nhưng vợ nên là con gái trưởng.

- Tử đồng cung: muộn lập gia đình mới mong được bách niên giai lao. Nhưng dù sao chăng nữa, trong nhà cũng hay có sự bất hòa vì một trong hai người hay ghen tuông.

- Liêm đồng cung: vợ chồng ở với nhau hay sinh tai họa, dễ gặp nhau lại dễ bỏ nhau, nếu không cũng sớm khắc.

- Vũ đồng cung: nên muộn lập gia đình, vợ chồng phải chênh lệch nhau nhiều tuổi. Cả hai đều tài giỏi đảm đang nhưng nếu sớm đường hôn phối tất bị hình khắc.

Tham Lang ở Cung Huynh Đệ

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất: hai người.

- Đơn thủ tại Dần, Thân: một người

- Đơn thủ tại Tý, Ngọ: may mắn lắm mời có một người, nhưng hay chơi bời, suốt đời lang thang đây đó. Đôi khi lại có thêm nhiều anh chị em dị bào rất khá giả.

- Tử đồng cung: nhiều nhất là ba người, thường ly tán và vất vả trên đường đời.

- Liêm đồng cung: may mắn lắm mới có hai người nhưng ly tán, cùng khổ. Trong nhà thiếu hòa khí. Anh chị em oán hận lẫn nhau, đôi khi lại còn cãi nhau.

- Vũ Tham đồng cung: nhiều nhất là ba người, sau đều giàu có nhưng sớm xa nhau.

Tham Lang ở Hạn

- Sáng sủa tốt đẹp: mọi sự hành thông, có công danh, có hoạnh tài, nếu nhập Hạn tại Tứ Mộ hợp với tuổi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi nên lại càng phát đạt hiển hách. Trong trường hợp này, nếu may mắn gặp thêm Hỏa, Linh phải quyết đoán là hoạnh phát danh tài.

- Mờ ám xấu xa: hao tán tiền tài, chơi bời phóng đãng đến nỗi mang tai họa, mọi sự đều bế tắc, nếu có công danh chắc chắn là bị truất giáng.

- Vũ, Lộc, Mã: có danh chức và tài lộc.

- Hồng, Đào: thành gia thất (lấy vợ lấy chồng)

- Lương, Kỵ: vật bằng gỗ, đá rơi xuống người gây nên thương tích.

- Riêu, Kỵ: tai nạn về sông nước, mắc khẩu thiệt, hay kiện tụng, có sự lo buồn.

- Không, Kiếp: mọi sự đều bế tắc, hao tổn tiền tài, nếu có công danh tất bị truất giáng.

- Hổ: súc vật hay ác thú cắn (đáng lo ngại nhất là Tham nhập Hạn tại Dần, Tuất) nếu không, tất mắc tai nạn xe cộ.

Sao Thái Âm

 Sao Thái Âm là nơi trú ngụ của Giả phu nhân, Giả phu nhân chính là vợ của Hoàng Phi Hổ. Vì sự dâm đãng của Trụ Vương mà Giả phu nhân phải nhảy lầu tự vẫn để bảo toàn danh tiết. Sau khi chết, Giả phu nhân được mời lên chưởng quản Sao Thái Âm.


Thái Âm thuộc Âm Thủy, là sao ở trung thiên, chủ tinh của người sinh ban đêm. Miếu vượng tại Dậu Tuất Hợi Tý Sửu, hợp với người sinh ban đêm, nếu người sinh ban ngày mà lại có Thái âm lạc hãm, thì tức là không hợp.

Thái dương chủ phát tán, chủ quý, còn Thái âm thì chủ thu giấu, chủ phú, cho nên Thái Âm cũng bao gồm ý tứ của Tài tinh, nhưng cái Tài tinh này so với Vũ Khúc có điểm khác nhau. Vũ khúc lá hành động cầu tài, mà Thái âm thì thuộc kế hoạch, mang tính chất phụ tá. Có lúc lại có khả năng nắm giữ quyền lực tiền tài, giống như Thái Dương, cần sự trung hòa.Cho nên khi Thái âm cư ở cung hãm, mà được Tả Hữu Khúc Xương Lộc Quyền tương hội thì vẫn là đẹp, Thái Âm miếu vượng mà hội được cát tinh thì Hóa Kỵ không hại được.Nhưng tổ hợp của Thái Âm không ổn định, nếu lại gặp Xương Khúc thì trại lại, lại bị tình cảm lãnh đạo. Nếu lại gặp Sát tinh thì có thể trở thành trò đùa của quyền lực.So với Thái Dương, Thái Dương chủ Động, chủ phát xạ, chủ truyền bá, chủ quý. Còn Thái Âm chủ Tĩnh, chủ thu nhận, chủ Phú. Nhưng nếu như thu nhận quá thịnh, thì sẽ là người nhiều tâm kế, lòng dạ thâm sâu, rất khác biệt so với Thái Dương. Chính là do Thái Dương tự mình tỏa sáng, tỏa nhiệt, Nhưng Thái Âm thì ngược lại, được diếu sáng bởi Thái Dương, nếu không có Thái Dương chiếu đến, thì Thái âm tối đen như mực.Dùng cách ví von mà nói, thì có một sự khác biệt giữa Thiên phủ “thâm trầm”, khác với Thái Âm là “Âm Sâm” (Âm Sâm có nghĩa là ảm đạm).
 
Đặc điểm Sao Thái Âm
- Phương Vị: Bắc Đẩu Tinh
- Tính: Âm
- Hành: Thủy
- Loại: Phúc Tinh, Phú Tinh
- Chủ về: Điền trạch, tiền bạc, mẹ, vợ
- Tượng cơ thể: Mắt phải
- Tên gọi tắt: Nguyệt
 
Vị trí Sao Thái Âm ở các Cung
- Miếu địa: Cung Dậu, Tuất, Hợi.
- Vượng địa: Cung Thân, Tý.
- Đắc địa: Cung Sửu, Mùi.
- Hãm địa: Cung Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ.
 
Thái Âm là một trong 14 sao chính tinh thuộc chòm sao Thiên Phủ, chòm Thiên Phủ bao gồm các sao: Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân. Trong đó Thái Âm là sao thứ 2 trong 8 sao thuộc chòm Thiên Phủ này.
 
Sao Thái Âm ở Cung Mệnh
Ý nghĩa tướng mạo, ngoại hình, tính cách
+ Cung Mệnh có Thái Âm, miếu, vượng hay đắc địa tọa thủ, nên thân hình to lớn, hơi cao, da trắng, mặt vuông vắn, đầy đặn, dương, mắt sáng, rất thông minh, tính khoan hòa, nhân hậu, từ thiện, ưa thích văn chương, mỹ thuật, được hưởng giàu sang và sống lâu.
+ Nguyệt hãm địa nên thân hình nhỏ, hơi cao, mặt dài kém thông minh, tính ương ngạnh, thích ngao du chơi bời, ưa ngâm hoa vịnh nguyệt, và không tham cầu danh lợi: suốt đời chẳng mấy khi được xứng ý toại lòng, rất vất vả, thường phải ly tổ bôn ba, lại hay đau yếu, mắt kém, khó tránh thoát được tai nạn nếu trong mình không có kỳ tật, tất không thể sống lâu được.
 
- Nam mệnh
+ Nguyệt miếu, vượng hay đắc địa (gặp Tuần, Triệt án ngữ) thủ Mệnh, gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, tất được hưởng phú qúy đến tột bậc, có uy quyền hiển hách và sống lâu.
+ Nguyệt hãm địa gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, thật là suốt đời cùng khổ cô đơn, lang thang phiêu bạt, hay đau yếu, thường có bệnh ở bộ tiêu hóa, mắt rất kém, nếu trong mình không có tật, chân tay không bị thương tàn, chắc chắn là mù lòa. Không những thế, lại còn hay mắc những tai họa khủng khiếp và dĩ nhiên là yểu tử.
+ Cung Thân có Nguyệt tọa thủ, là người nể vợ hay sợ vợ.
 
- Nữ mệnh
+ Nguyệt miếu, vượng hay đắc địa thủ Mệnh, là người có nhan sắc, có đức độ, lại có tài giỏi đảm đang, vượng phu ích tử, được hưởng giàu sang và sống lâu. Nếu Nguyệt gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, tất được hưởng phú qúy đến tột bậc và phúc thọ song toàn.
+ Nguyệt miếu, vượng địa hay gặp Tuần, Triệt án ngữ, hay Nguyệt hãm địa, tất phải muộn lập gia đình, hay lấy kế lấy lẽ mới tránh được những nỗi ưu phiền, đau đớn vì chồng con.
+ Nguyệt hãm địa là người dâm dật, suốt đời vất vả, có nhiều tật bệnh. Nếu Nguyệt gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, thật là chung thân cùng khốn cô đơn, phải lang thang phiêu bạt, lại hay đau yếu thường có bệnh hoặc ở bộ tiêu hóa, hoặc ở tử cung, mắt kém, nếu trong mình không có tật, chân tay không bị thương tàn, chắc chắn là mù lòa.
 
Ý nghĩa công danh, tài lộc, phúc thọ
+ Nguyệt miếu địa, vượng địa, ứng hợp với Âm Nam, Âm Nữ.
+ Cung Mệnh có Nguyệt miếu, vượng địa tọa thủ, mà lại sinh ban đêm, nhất là vào khoảng từ ngày 10 đến ngày 20, thật là toàn mỹ.
+ Cung Mệnh có Nguyệt miếu địa hay vượng địa mà lại sinh ban ngày, nên kém sáng sủa tốt đẹp.
+ Nguyệt miếu, vượng hay đắc địa, gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hợp nhất là Xương Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc, Đào, Hồng, Hỷ, tất được hưởng phú qúy đến tột bậc và nổi tiếng là giàu có.
+ Nguyệt miếu, vượng địa, gặp Tuần, Triệt án ngữ, nên suốt đời lao khổ, phải lập nghiệp ở
phương xa, lại hay đau yếu thường có bệnh ở bộ tiêu hóa, mắt rất kém, tuổi thọ cũng bị chiết giảm.
+ Nguyệt đắc địa, gặp Tuần, Triệt án ngữ, tuy phải sớm ly tổ, đau mắt, cũng thường có bệnh ở bộ tiêu hóa, nhưng được hưởng phú qúy và phúc thọ song toàn.
+ Nguyệt đắc địa, nếu không gặp Tuần, Triệt án ngữ, tuy vô bệnh tật, vẫn có tài lộc, nhưng không thể qúy hiển được.
+ Nguyệt miếu, vượng hay đắc địa, gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, nhất là Sát tinh, Kỵ, Riêu, Hình tất không được hưởng giàu sang trọn vẹn: mắt kém, thường có bệnh ở bộ tiêu hóa, lại hay mắc tai nạn, tuổi thọ cũng bị chiết giảm.
+ Nguyệt đắc địa gặp Kỵ đồng cung và không bị Sát tinh xâm phạm, chắc chắn là được hưởng phú qúy đến tột bậc và sống lâu.
+ Nguyệt hãm địa Mão Tỵ (Âm cung) cũng không đến nỗi mờ ám xấu xa lắm, nên không nên vẫn được no cơm ấm áo, và chẳng đáng lo ngại nhiều về sự chẳng lành xảy đến trong đời.
+ Nguyệt hãm địa gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, nhất là Sát tinh, Riêu, Kỵ thật là suốt đời cùng khổ cô đơn, phải lang thang phiêu bạt, hay đau yếu, thường có bệnh ở bộ tiêu hóa, mắt rất kém, nếu trong mình có bệnh tật, chân tay không bị thương tàn, chắc chắn là mù lòa. Không những thế, lại còn hay mắc những tai họa khủng khiếp, và dĩ nhiên là yểu tử.
+ Nguyệt hãm địa gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, nhất là Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc, Đào, Hồng, Hỷ tất được có danh tài và được tăng thêm tuổi thọ.
+ Nguyệt hãm địa gặp Tuần, Triệt án ngữ, lại thành tốt đẹp, tuy vẫn phải ly tổ lập nghiệp ở phương xa, nhưng được hưởng giàu sang, khỏe mạnh và sống lâu.
+ Nguyệt dù miếu, vượng, đắc hay hãm địa gặp Hình đồng cung, tất mắt có tật, mắt thường bị vật kim khí sắc nhọn chạm phải mà có thương tích.
 
Những Bộ Sao Tốt
Thái Âm và Thái Dương đắc địa
Thái Âm, Thái Dương tại Sửu Mùi gặp Thiên Không, Thiên Hư ở cung xung chiếu: Tốt (Vào cách “Nhật Nguyệt chiếu Không, Hư vị địa”)
Thái Âm sáng gặp Lộc Tồn: Rất giàu có, triệu phú. Trong trường hợp này, Thái Âm có giá trị như sao Vũ Khúc sáng sủa, chủ về tài lộc.
Thái Âm đắc địa gặp Hóa Kỵ: Càng rực rỡ thêm.
Thái Âm sáng gặp Tam Hóa: Rất tốt đẹp, vừa giàu, vừa sang, vừa có khoa bảng.
Thái Âm sáng gặp Xương Khúc: Rất thông minh, lịch duyệt, từng trải, lịch lãm, tài hoa.
Thái Âm sáng gặp Tứ Linh (Long, Phượng, Hổ, Cái): Hiển hách.
Thái Âm, Thiên Đồng gặp Kình ở Ngọ: Rất có nhiều uy quyền.
Thái Âm sáng gặp Đào, Hồng: Rất phương phi, đẹp đẽ, được người khác phải mến chuộng tôn thờ. Đây là bộ sao của minh tinh, tài tử nổi danh. Tuy nhiên, bộ sao này có thể có nhiều bất lợi về tình duyên, có thể đưa đến sự sa ngã, trụy lạc, lăng loàn.
 
Những Bộ Sao Xấu
Thái Âm hãm gặp tam ám (Riêu, Đà, Kỵ): Bất hiển, bị tật mắt, lao khổ, nghèo, họa vô đơn chí, hao tài, bị tai họa liên tiếp, ly tán, bệnh hoạn triền miên. Phụ nữ có thể hiếm con.
Thái Âm hãm gặp sát tinh: Lang thang nay đây mai đó, lao khổ.
Thái Âm hãm gặp Tam Không: Phú quý nhưng không bền.
Thái Âm Thiên Đồng ở Tý gặp Hổ Khốc Riêu Tang: Người nữ có sắc đẹp nhưng bạc mệnh, đa truân, suốt đời phải khóc chồng, góa bụa.
Ngoài những bộ sao tốt xấu nói trên, cung Mệnh có Nhật sáng sủa tọa thủ rất tốt, nhưng còn kém hơn cung Mệnh được Nhật sáng sủa hội chiếu với Nguyệt. Nếu giáp Nhật, Nguyệt sáng cũng phú hay quý.
 
Thái Âm ở Cung Phụ Mẫu
- Đơn thủ tại Dậu, Tuất, Hợi: hai thân giàu sang. Lợi ích cho mẹ nhiều hơn là cho cha.
- Đơn thủ tại Mão, Thìn, Tỵ: hai thân vất vả. Sớm khắc một trong hai thân. Nên làm con nuôi họ khác.
- Nhật đồng cung tại Sửu, Mùi: hai thân bất hòa, cha mẹ khá giả nhưng con không thể ở gần được.
- Đồng đồng cung tại Tý: cha mẹ vinh hiển và nhiều của cải.
- Đồng đồng cung tại Ngọ: Trong nhà hay có sự bất hòa. Sớm xa cách một trong hai thân.
- Cơ đồng cung tại Thân: hai thân khá giá.
- Cơ đồng cung tại Dần: hai thân giàu có, nhưng sớm xa cách một trong hai thân. Không lợi ích cho mẹ.
 
Thái Âm ở Cung Phúc Đức
Thái Âm: mộ mẹ, nếu lúc sinh ra đời, mẹ vừa khuất bóng hay là mộ bà nội, nếu mẹ còn, bà đã khuất hay là mộ cụ nội bà, nếu mẹ bà còn, cụ đã mất. Thế đất hơi cao, chạy dài và uốn cong như hình bán nguyệt.
- Đơn thủ tại Dậu, Tuất, Hợi: được hưởng phúc trọn đời, sung sướng, sống lâu. Trong họ có nhiều người qúy hiến và giàu sang.
- Đơn thủ tại Mão, Thìn, Tỵ: bạc phúc nên tuổi thọ bị chiết giảm. Suốt đời vui ít buồn nhiều, lao tâm khổ tứ. Nên lập nghiệp ở nơi thật xa quê hương, có sớm xa cách gia đình mới mong được yên thân. Họ hàng ly tán, nhiều người cùng khổ, cô đơn, mang ác tật, phiêu bạt giang hồ, hay mắc tai nạn mà chết một cách thê thảm. Đàn bà con gái trong họ rất vất vả về chồng con.
- Đồng đồng cung tại Tý: được hưởng phúc, sống lâu, Nên lập nghiệp ở xa quê hương, bản quán. Họ hàng qúy hiển, có danh giá, uy quyền tế thế.
- Đồng đồng cung tại Ngọ: giảm thọ. Phải ly tổ bôn ba mới mong được yên thân. Họ hàng càng ngày càng sa sút phiêu bạt.
- Nhật đồng cung: không được hưởng phúc dồi dào, nên hay gặp trở ngại trên đường đời.
Nên tập nghiệp ở nơi thật xa quê hương. Họ hàng khá giả, nhưng ly tán. Nếu sinh ban ngày, phải
luận đoán trong họ đàn ông, con trai hiển đạt, còn đàn bà con gái vất vả về chồng con, hay yểu tử. Trái lại, nếu sinh ban đêm, phải luận đoán là trong họ đàn bà, con gái giàu có, sung sướng, còn đàn ông con trai cùng khổ phiêu bạt.
- Cơ đồng cung tại Thân: được hưởng phúc, sống lâu. Trong họ có người giàu sang, nhưng đàn bà con gái thường khá giả hơn là đàn ông con trai.
- Cơ cung tại Dần: không được hưởng phúc dồi dào nên suốt đời chẳng được xứng ý toại lòng. Họ hàng bình thường, nhưng đàn bà con gái hay trắc trở vê chồng con, lại có người phong tình hoa nguyệt.
 
Thái Âm ở Cung Điền Trạch
- Đơn thủ tại Dậu, Tuất, Hợi: tổ nghiệp để lại rất ít. Tự tay gây dựng và trở nên giàu có, mua tậu được nhiều nhà đất
- Đơn thủ tại Mão, Thìn, Tỵ: không có nhà đất. May mắn lắm về già mới có chốn nương thân.
- Đồng đồng cung tại Ngọ: thành bại thất thường. Nhưng về già cũng có chốn nương thân.
- Nhật đồng cung: rất nhiều nhà đất, một phần là của tổ nghiệp để lại, còn một phần do tự tay tạo lập nên.
- Cơ đồng cung tại Thân: khá nhiều nhà đất
- Cơ đồng cung tại Dần: nhà đất bình thường.
 
Thái Âm ở Cung Quan Lộc
- Đơn thủ tại Dậu, Hợi: công danh sớm đạt, văn võ kiêm toàn.
- Đơn thủ tại Tuất: cũng như trên nhưng thường bị nhiều người ghen ghét và hay bị bó buộc vào những công việc không hợp với chí hướng.
- Đơn thủ tại Mão: công danh muộn màng, có tài ăn nói, văn chương lỗi lạc.
- Đơn thủ tại Thìn, Tỵ: gặp nhiều trở ngại trên đường công danh, lúc thiếu thời lật đật vất vả, đến khi nhiều tuổi mới được xứng ý toại lòng. Có tài, nhưng không gặp cơ hội đi thi thố, nên suốt đời hậm hực. Tuy vậy, vẫn được nhiều người kính trọng vì có đức độ và có tài văn chương.
- Đồng đồng cung tại Tý: công danh hiển hách, có tài can gián người trên
- Đồng đồng cung tại Ngọ: nên chuyên về kỹ nghệ hay doanh thương.
- Cơ đồng cung tại Thìn: nên chuyên về khoa hay sư phạm. Buôn bán cũng phát đạt
- Cơ đồng cung Dần: cũng như trên, nhưng muộn và gặp nhiều trở ngại.
- Nguyệt đồng cung: công danh trắc trở. Lúc thiếu thời khó được xứng ý toại lòng, vì có tài nhưng bất đắc chí, về già mới có chút hư danh. Trường hợp này rất cần gặp Tuần, Triệt án ngữ, tuy buổi đầu mưu cầu công danh thường mắc nhiều trở ngại, nhưng về sau rất hiển hách.
 
Thái Âm ở Cung Nô Bộc
Nhật Nguyệt đắc địa: Tôi tớ lạm quyền, có học trò giỏi, người phò tá đắc lực.
Nguyệt hãm địa: Tôi tớ ra vào luôn, không ở lâu bền.
 
Thái Âm ở Cung Thiên Di
- Đơn thủ lại Dậu, Tuất, Hợi: được nhiều người kính trọng, dễ kiếm tiền.
- Đơn thủ tại Mão, Thìn, Tỵ: ra ngoài hay gặp tai ương vì những sự phiền lòng, nhiều người ghét.
- Đồng đồng cung tại Tý, Lương đồng cung: luôn luôn gặp qúy nhân phù trợ, được nhiều người kính trọng, buôn bán phát tài.
- Đồng đồng cung tại Ngọ: hay gặp sự cạnh tranh và ghen ghét, ra ngoài rất bất lợi.
- Nhật đồng cung: ra ngoài lợi ích hơn ở nhà, hay gần nơi quyền qúy, được nhiều người tôn phục. Nếu gặp Tuần, Tuần án ngữ hay Kỵ đồng cung lại càng rực rỡ. Lúc chết tuy ở xa nhà nhưng được chôn cất tử tế.
- Cơ đồng cung tại Thân: buôn bán phát tài, nhiều người mến chuộng.
- Cơ đồng cung tại Dần: không nên xa nhà lâu, buôn bán phát tài nhưng bị nhiều người ghen ghét.
 
Thái Âm ở Cung Tật Ách
- Đau bụng
- Mờ ám: đau phổi
- Mờ ám, Riêu, Đà, Ky: mất kém, thường bị lòa hay thông manh.
- Hình đồng cung: vật kim khí sắc nhọn đâm vào mắt.
 
Thái Âm ở Cung Tài Bạch
Thái Âm là tài tinh nên thích hợp đóng cung tài.
- Đơn thủ tại Dậu, Tuất, Hợi: giàu có lớn, dễ kiếm tiền.
- Đơn thủ tại Mão, Thìn, Tỵ: vất vả mới kiếm được tiền, phải gặp thời loạn hay phải đi ngang về tắt mới kiếm được đủ tiêu dùng, về già mới sung túc
- Đồng đồng cung tại Ngọ: phải vất vả mới kiếm đượс tiền, về già mới có của.
- Cơ đồng cung tại Thân: tay trắng lập nghiệp nhưng khá giả.
- Cơ đồng cung tại Dần: thành bại, thất thường, kiếm tiền khó khăn và chậm chạp.
 
Thái Âm ở Cung Tử Tức
- Đơn thủ tại Dậu, Tuất, Hợi: từ năm con trở lên, có qúy tử. Con gái nhiều hơn con trai, nếu sinh con gái đầu lòng về sau mới được toàn vẹn.
- Đơn thủ tại Mão, Thìn, Tỵ: may mắn lắm mới có ba con. Nếu muộn sinh mới dễ nuôi. Lớn lên con cũng không khá giả và thường xung khắc với cha mẹ.
- Thái Âm có Thiên Đồng đồng cung Tý: năm con, trong số đó có quý tử là thần nhân giáng thế.
- Thiên Đồng đồng cung tại Ngọ: may mắn lắm mới có hai con.
- Nhật đồng cung: từ năm con trở lên, có qúy tử.
- Cơ đồng cung tại Dần: nhiều nhất là ba con, có nhiều con dị bào.
- Nguyệt, Thai, Hỏa: Có con cầu tự mới nuôi được.
- Nhật, Nguyệt, Thai: Có con sinh đôi.
 
Thái Âm ở Cung Phu Thê
- Đơn thủ tại Dậu, Tuất, Hợi: vợ chồng đều qúy hiển, lấy nhau sớm, hòa thuận cho đến lúc đầu bạc. Trai lấy được vợ đẹp và giàu sang, thường nể vợ và đôi khi nhờ vợ mới có danh giá, của cải. Gái lấy được chồng hiền, đáng ngôi mệnh phụ đường đường.
- Đơn thủ tại Mão, Thìn, Tỵ : vợ chồng hay bất hòa, trai lấy vợ lăng loàn, dâm đăng, gái lấy phải chồng bần tiện, bất nhân. Trong lúc cưới xin, gặp nhiều trở ngại, nên muộn đường hôn phối để cố tránh những nỗi buồn khổ, chia ly.
- Đồng đồng cung tại Tý: cũng như trên, nhưng chồng hay nể vợ và được nhờ vợ nhiều.
- Đồng đồng cung tại Ngọ: muộn lập gia đình mới tránh được chia ly.
- Nhật đồng cung: nên muộn đường hôn phối, nếu không tất phải xa nhau nhưng cả hai đều qúy hiến, trai hay nể vợ, gái thường sợ chồng.
- Cơ đồng cung tại Thân: vợ chồng đều tài giòi, khá giả, lấy nhau sớm, trai hay nể vợ.
- Cơ đồng cung tại Dần: thường gặp trở ngại trong việc cưới hỏi, nên muộn đường hôn phối để tránh những sự bất hòa hay xa cách nhau, cả hai đều có tài, trai thường sợ vợ.
 
Thái Âm ở Cung Huynh Đệ
- Đơn thủ tại Dậu, Tuất, Hợi: sáu người trở lên, khá giả. Chị em gái nhiều hơn anh em trai.
- Đơn thủ tại Mão, Thìn, Tỵ: may mắn lắm mới có ba người, nhưng trong số đó phải có người mang cố tật, hay cùng khổ cô đơn. Anh chị em không thể chung sống với nhau lâu được.
- Nhật Nguyệt giáp Thai: Có anh chị em song sinh.
- Cơ đồng cung tại Thân: ba người.
- Cơ đồng cung tai Dần: may mắn lắm mới có một người.
- Thiên Đồng đồng cung tại Tý: bốn hay năm người, chị em nhiều hơn anh em, tất cả đều thuận hòa và khá giả.
- Thiên Đồng đồng cung tại Ngọ: nhiều nhất là hai người, anh chị em bất hòa và xa cách nhau.
- Nhật đồng cung: năm người trở lên, tuy khá giả nhưng khiếm hòa.
 
Thái Âm ở Hạn
- Sáng sủa tốt đẹp: tài lộc phong túc, thường mua tậu được nhà đất, có danh giá, hay gặp việc cưới xin vui vẻ, thêm con thêm cháu, mọi sự đều hành thông.
- Mờ ám xấu xa: tiền tài hao tán, hay đau yếu, thường đau bụng hay đau mắt, có thể mắc kiện cáo, trong lòng như có sự hối hận, đêm ngày cắn rứt, sức khỏe của mẹ (hay của vợ) suy kém, rất đáng lỡ ngạt. Trong trường hợp này, nếu chẳng may gặp thêm Đà, Tuế, Hổ phải quyết đoán là mẹ chết.
- Long Trì, Sát: đau bụng (bộ máy tiêu hóa)
- Đà, Kỵ: đau mắt nặng, mất của.
- Hỏa, Linh: đau yếu, mắc kiện cáo.
- Hình: mắt bị thương vì va chạm nhằm vật kim khí bén nhọn.
- Nguyệt, Cự: Đàn bà khó sinh nở.
- Thái Âm, Thái Dương đắc địa: Di chuyển chỗ ở thuận lợi.

Sao Thiên Phủ

Sao Thiên Phủ có chủ quản là Khương hoàng hậu – một người phụ nữ nết hạnh, hiền thục là Hoàng Hậu bên của Trụ Vương nhưng bị Trụ Vương ngược đãi, nghe theo lời Đắc Kỷ giết chết. Trong Tử Vi, Thiên Phủ còn có tính chất tài năng và từ bi.

 Thiên Phủ thuộc Dương Thổ, là chủ tinh của chòm Nam Đẩu, giống như kho tiền. Nguyên nhân là do quan hệ của Chủ tinh, cho nên cũng cần “quần thần đồng hội”, so sanh với tử vi thì tính cách bảo thủ hơn, sức khai sáng không bằng, cũng không có cái mạnh mẽ quyết liệt chủ quan của Tử vi. Dễ đối xử với người hơn Tử vi. Nếu được quần thần đồng hội, lại thêm gặp được Lộc tinh, chủ về khả năng vừa công vừa thủ, quyết đoán lớn lao. Nếu chẳng gặp được Hóa lộc hoặc Lộc tồn, thì là người hành sự cẩn trọng, lợi cho việc giữ gìn cơ nghiệp. Nếu không có Lộc tinh mà lại gặp được các cát tinh khác, giống như rời xa quần thần, mà biểu hiện của Thiên phủ là tiến thoái khó khăn, nếu gặp sát tinh thì chỉ nên nấn ná đợi thời cầu tài. Đóng ở Tài Bach, Quan lộc cung thì hoàn hảo, bởi vì xã hội ngày nay người người cầu tài theo mệnh, miễn là Mệnh cung, Phúc Đức cung không kém, chỉ là mánh khóe cầu tài quá khích mà thôi. Nhưng nếu đóng ở Mệnh cung thì dễ phát triển thành gian trá, phù thịnh.Thiên Phủ là Nam Đẩu, Tử vi là Bắc đẩu. Tử vi chủ lãnh dạo, chủ phát tán, chủ quý. Thiên Phủ chủ cất giấu, chủ phú, chủ giữ gìn cơ nghiệp, nói một cách tương đối là đầy đặn. Trừ phi là Thiên phủ gặp cách xấu đặc biệt (gặp sát tinh chẳng gặp Lục Cát, lại chẳng gặp Khoa Lộc, gặp toàn sao tạp bất lương) còn không dù có gặp “gian” cũng chẳng lộ ra là “gian”.

Đặc điểm sao Thiên Phủ

- Phương Vị: Nam Đẩu Tinh

- Tính: Dương

- Hành: Thổ

- Loại: Tài Tinh, Quyền Tinh

-Chủ về: Tài lộc, uy quyền

- Tên gọi tắt: Phủ

Vị trí Thiên Phủ ở các Cung

- Miếu địa: Dần, Thân, Tý, Ngọ.

- Vượng địa: Thìn, Tuất.

- Đắc địa: Tỵ, Hợi, Mùi.

- Bình hòa: Mão, Dậu, Sửu.

Thiên Phủ không có hãm địa.

Sao Thiên Phủ là một trong 14 chính tinh quan trọng của Tử Vi. Chòm Thiên Phủ với Chòm Tử Vi hợp thành đầy đủ các sao chính tinh. Tạo thành lá số tử vi nói lên được số mệnh của đương số. Vậy Thiên Phủ có ý nghĩa như thế nào khi nằm ở các cung với các trường hợp miếu, vượng, đắc địa?

Thiên Phủ ở Cung Mệnh

Ý nghĩa tướng mạo, ngoại hình, tính cách:

+ Cung Mệnh có Thiên Phủ tọa thủ, nên thân hình đầy đặn, da trắng, vẻ mặt thanh tú, đều và đẹp, tính khoan hồng nhân hậu, ưa việc từ thiện, biết suy tính và có nhiều mưu cơ để giải quyết những công việc khó khăn. Suốt đời được hưởng phúc, giàu sang và sống lâu.

+ Cung Mệnh có Phủ tọa thủ là người khoan hòa, nhân hậu, có lòng từ thiện.

+ Cung Mệnh có Phủ tọa thủ, gặp nhiều Sát tinh hội hợp, là người gian trá, hay đánh lừa, nói dối.

+ Phủ gặp Tuần, Triệt án ngữ hay Không, Kiếp hội hợp, thì thân hình lại cao và hơi gầy, da kém vẻ tươi nhuận, tính ương ngạnh, thích ăn hoang tiêu rộng, chơi bời phóng túng, thích phiêu lưu nay đây mai đó, hay mưu toan chuyện viển vông. Vậy cho nên suốt đời túng thiếu, và chẳng mấy khi được xứng ý toại lòng, tuổi thọ cũng bị chiết giảm.

- Nam mệnh

+ Phủ thủ Mệnh gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp, hội hợp, nhất là Tử Vi, Tướng, Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc, tất được hưởng phú qúy song toàn và sống lâu.

+ Đàn ông có Phủ thủ Mệnh là người cẩn thận, chín chắn, biết suy nghĩ sâu xa, ví như con thuồng luồn qua vực.

+ Phủ gặp Tuần, Triệt án ngữ, hay Thiên Không, Kiếp hội hợp, thật là cùng khổ suốt đời, khó tránh thoát được tai họa và thường yểu tử. Gặp cách này, chỉ có lánh mình ở chốn thuyền môn đạo viện mới được yên thân và sống lâu.

- Nữ mệnh

+ Phủ thủ Mệnh nên vẻ mặt tươi đẹp như hoa mới nở.

+ Phủ gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, tất được hưởng giàu sang sống lâu và rất vượng phu ích tử.

+ Phủ gặp Tuần, Triệt án ngữ, hay Thiên Không dám, Không Kiếp hội hợp, nên suốt đời phải lao tâm khổ tứ, buồn bực vì chồng con và không thể sống lâu được. Nhưng nếu có cách này mà dốc lòng tu hành thì cũng được hưởng phúc và thanh nhàn.

Ý nghĩa tài lộc phúc thọ

Thiên Phủ là tài tinh và quyền tinh, và là sao chính quan trọng bậc nhì, cho nên có nhiều ý nghĩa phú quý và thọ. Nhưng nếu bị Tuần Triệt, Không hay Kiếp xâm phạm thì hiệu lực kém sút nhiều: túng thiếu, bất đắc chí, tuổi thọ bị giảm, phá di sản lại hay bị tai họa, đi tu thì mới yên thân và thọ. 

Riêng phụ nữ thì phải lao tâm khổ trí, buồn bực vì chồng con. Dù sao, Thiên Phủ vẫn là sao giải trừ nhiều bệnh tật, tai họa.

Những Bộ Sao Tốt

Tử Vi, Thiên Phủ đồng cung.

Tử, Phủ, Vũ, Tướng cách: Hai cách này tốt toàn diện về mọi mặt công danh, tài lộc, phúc thọ.

Phủ, Tướng: Giàu có, hiển vinh.

Thiên Phủ, Vũ Khúc: Rất giàu có. Càng đi chung với sao tài như Hóa Lộc, Lộc Tồn thì càng thịnh về tiền bạc.

Những Bộ Sao Xấu

Sao Thiên Phủ rất kỵ các sao Không Kiếp, Tuần, Triệt, Kình, Đà, Linh, Hỏa.

Nếu gặp các sao này thì uy quyền, tài lộc bị chiết giảm đáng kể. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Thiên Phủ chế được hung tinh của sát tinh như Kình, Đà, Linh hay Hỏa. Nhưng, nếu Thiên Phủ gặp đủ cả bốn sao, Thiên Phủ không chế nổi, mà còn bị chúng phối hợp tác họa mạnh mẽ.

Thiên Phủ ở Cung Phụ Mẫu

- Bất cứ tại vị trí nào, cha mẹ cũng có của.

- Đơn thủ tại Tỵ, Hợi: cha mẹ khá giả, có danh сhức.

- Đơn thủ tại Sửu, Mùi, Mão, Dậu: hai thân phú qúy song toàn, nhưng sớm xa cách một trong hai thân.

- Tử đồng cung: cha mẹ giàu sang. Con được thừa hưởng của cha mẹ để tại rất nhiều.

- Liêm Trinh đồng cung: hai thân giàu có, nhưng bất hòa. Con không hợp tính cha mẹ.

- Vũ Khúc đồng cung: cha mẹ giàu có và vinh hiển.

 
Thiên Phủ tại Cung Phúc Đức

- Đơn thủ tại Tỵ, Нợi: được hưởng phúc, sống lâu. Họ hàng đông đảo, khá giả.

- Đơn thủ tại Sửu, Mùi, Mão, Dậu: không được hưởng phúc dồi dào. Nên lập nghiệp ở nơi thật xa quê hương. Trong họ, nhiều người giàu sang, nhưng ly tán.

- Tử đồng cung, Tướng đồng cung: suốt đời được xứng ý toại lòng, sống lâu và hưởng phúc. Họ hàng nhiều người giàu sang.

- Liêm đồng cung: suốt đời sung sướng, phúc thọ song toàn. Trong họ có nhiều người giàu sang.

- Vũ đồng cung: được hưởng phúc, sống lâu. Họ hàng khá giả.

 
Thiên Phủ tại cung Điền Trạch

- Được thừa hưởng của tổ nghiệp để lại.

- Đơn thủ tại Dần, Thân: khá nhiều nhà đất.

- Đơn thủ tại Sửu, Mùi, Mão, Dậu: nhà đất bình thường.

- Tử đồng cung: rất nhiều nhà đất. Cơ nghiệp ngày càng thịnh vượng. Nếu tự tay tạo lập ngày càng phát đạt.

- Liêm đồng cung: được hưởng của tổ nghiệp để lại. Nhưng cơ nghiệp càng về sau càng sa sút, không giữ được bền vững.

- Vũ đồng cung: gìn giữ được tổ nghiệp. Về sau làm nên thịnh đạt bội phần.

 
Thiên Phủ tại Cung Quan Lộc

- Đơn thủ tại Tỵ, Hợi: công danh bền vững, nhưng không hiển hách.

- Đơn thủ tại Sửu, Mùi, Mão, Dậu: thành công trong việc kinh doanh buôn bán. Nếu có danh chức, cũng chỉ trong một thời gian ngắn.

- Tử đồng cung: công danh hiến hách, phú qúy song toàn.

- Liêm đồng cung: phú qúy song toàn, lập được nhiều chiến công, có uy quyền hiển hách.

- Vũ đồng cung: công danh hoạnh đạt, văn võ kiêm toàn, có chức vụ thuộc về tài chánh hay kinh tế.

 
Thiên Phủ ở Cung Thiên Di

- Đơn thủ tại Tỵ, Hợi: gặp quý nhân, có tài lộc.

- Đơn thủ tại Sửu, Mùi, Mão, Dậu: xa nhà được lợi ích và yên thân hơn ở nhà, buôn bán phát tài.

- Tử đồng cung: ra ngoài luôn tuôn gặp qúy nhân phù trợ, mọi sự đều hành thông, càng xa nhà càng được xứng ý toại lòng.

- Liêm đồng cung: ra ngoài lợi ích hơn ở nhà, tài lộc dễ kiếm, qúy nhân trợ giúp cũng nhiều.

- Vũ đồng cung: gặp qúy nhân phù trợ, được nhiều người kính nể, tài lộc hưng vượng.

 
Thiên Phủ ở Cung Tài Bạch

- Đơn thủ tại Tỵ, Hợi: rất giàu có và giữ của bền vững

- Đơn thủ tại Sửu, Mùi, Mão, Dậu: giàu có, nhưng không được rực rỡ như trên.

- Tử đồng cung: rất nhiều của cải, thường làm quan về tài chánh, được coi giữ kho tàng.

- Liêm đồng cung: giàu có lớn, giữ của bền vững. (Thiên Phủ Lâm Tuất)

- Vũ đồng cung: rất giàu có, giữ của bền vững, thường làm quan về tài chính hay giữ kho tàng.

 
Thiên Phủ tại Cung Tử Tức

- Đơn thủ tại Tỵ, Hợi: từ năm con trở lên, cố qúy tử.

- Đơn thủ tại Sửu, Mùi, Mão, Dậu: nhiều nhất là bốn con.

- Tử đồng cung: từ năm con trở lên.

- Liêm đồng cung: từ ba đến năm con, về sau đều khá giả.

- Vũ đồng cung: hai con, sau đều qúy hiển.

 
Thiên Phủ tại Cung Phu Thê

- Đơn thủ tại Tỵ, Hợi: vợ chồng khá giả, hòa thuận đến lúc đầu bạc.

- Đơn thủ tại Sửu, Mùi, Mão, Dậu: vợ chồng chung sống sung túc, nhưng hay cãi lộn.

- Tử đồng cung: hòa hợp trắng răng đến thuở bạc đầu, bợ chồng khá giả, chung hưởng giàu sang

- Liêm đồng cung: nên muộn lập gia đình. Vợ chồng tính cương cường nhưng chung sống được với nhau đến lúc bạc đầu. Gia đình sung túc và thường có danh giá.

- Vũ đồng cung: vợ chồng đôi khi có sự bất hòa, nhưng chung hưởng giàu sang đến lúc bạc đầu.

 
Thiên Phủ khi vào Hạn

- Thiên Phủ không có vị trí hãm nhưng nếu gặp Tuần - Triệt, Tam Không (Địa Không, Thiên Không, Không Vong), tất bị phá sản, đau yếu, mưu sự chẳng được toại lòng, hay mắc lừa tiểu nhân.

- Xa lánh Tam Không: thật là kho tài lộc, gặp Hạn này chắc chắn là công danh hiển đạt, tăng tài tiến hỉ, nếu may mắn gặp thêm Khoa, Quyền, Lộc phải quyết đoán là tài quan song mỹ.

Sao Liêm Trinh

Sao Liêm Trinh là nơi chưởng quản của Phí Trọng, một trong những đại gian thần vô đạo nhất bên cạnh Trụ Vương. Vì Phí Trọng bơm bít đặt điều mà rất nhiều trung thần phải chết oan dưới tay Trụ Vương. Sau khi chết Phí Trọng đã được mời lên chưởng quản sao Liêm Trinh, thần của tàn ác và lươn lẹo.

Liêm trinh thuộc Âm Hỏa, là sao thứ 5 của chòm Bắc Đẩu, hóa khí là Tù tinh, chủ về tình cảm và lý trí, lại có tên là Thứ Đào Hoa. Liêm trinh gặp thiện thì thành thiện, gặp ác sẽ thành ác.Liêm trinh là một sao có sự biến hóa tốt xấu khá lớn, nhất định phải chú ý cẩn thận.

Nếu gặp Hóa Lộc thì tốt, chủ về tình cảm hòa hợp, ngại gặp Hóa Kỵ, chủ về tình cảm tan vỡ, hoặc gặp tai ương về máu huyết. Cùng với Sát Phá Tham hội hợp, tất sẽ rất cần Lộc tinh cùng hội mà sát tinh không được cường mạnh, thì cũng có thể gọi là tốt. Nếu không gặp cát tinh mà lại gặp hung tinh thì hình thương khó tránh. Được Thiên phủ cùng hội hợp, lại thêm Xương Khúc (văn xương, văn khúc) và Lộc tinh, có khả năng phát huy cái mặt tốt lành của Liêm trinh, đó là cách cục đẹp nhất của Liêm trinh. Cùng với Thiên tướng hội hợp, mà Thiên tướng vốn tốt lành, cũng là cách đẹp. Hội hợp với Tử Vi, Thiên Phủ không gặp ác tinh thì rất đẹp. Các tổ hợp trên đây gọi là “Gặp thiện thì theo thiện”. Liêm trinh chủ về tâm tư tình cảm, nếu tốt thì tình cảm phong phú, là người cao nhã vui tính, Xấu thì tự tư tự lợi, thậm chí không thể khống chế được tình cảm của chính mình, Liêm Trinh là sự phản ảnh sâu sắc tinh thần, khi suy đoán cần phải hết sức cân nhắc, đặc biệt là khi Liêm Trinh mang nặng tính đào hoa và tình cảm. 

Đặc điểm sao Liêm Trinh

- Phương Vị: Bắc Đẩu Tinh

- Tính: Âm

- Hành: Hỏa

- Loại: Quyền Tinh, Đào Hoa Tinh, Tù Tinh

- Chủ về: Uy quyền, đào hoa, hình ngục

- Tên gọi tắt: Liêm

Vị trí Liêm Trinh ở các Cung

- Miếu địa: Thìn, Tuất.

- Vượng địa: Tý, Ngọ, Dần, Thân.

- Đắc địa: Sửu, Mùi.

- Hãm địa: cung Tỵ, Hợi, Mão, Dậu.

Sao Liêm Trinh là một trong 14 sao chính tinh trong khoa Tử Vi. Liêm Trinh là sao thứ 6, sao cuối cùng thuộc chòm Tử Vi, bao gồm: Tử Vi, ThiênCơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh.

Sao Liêm Trinh ở Cung Mệnh

Ý nghĩa tướng mạo, ngoại hình, tính cách

+ Cung Mệnh có Liêm tọa thủ nên thân hình cao lớn, xương to và lộ, da thô, mặt hơi dài, sớm có nếp nhăn, vẻ mặt không được tươi thuận, mắt lồi, sáng, lông mày rậm.

+ Liêm miếu, vượng hay đắc địa là người liêm khiết thẳng thắn, can đảm, dũng mãnh, nhưng nghiêm nghị, nóng nảy, được hưởng giàu sang và sống lâu.

- Nam mệnh

+ Liêm miếu, vượng hay đắc địa thủ Mệnh, gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, tất được hưởng phú qúy đến tột bực, lại có uy quyền hiển hách và sống lâu.

+ Liêm đắc địa gặp Xương, Khúc đồng cung là người có tài văn võ, là bậc cái thế anh hùng.

+ Liêm hãm địa gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, thật là suốt đời cùng khổ, cô đơn,  phải lang thang phiêu bạt, lại có tàn tật hay có bệnh khó chữa, thường mắc những tai nạn khủng khiếp, chân tay thường bị vướng vào xiềng xích và chắc chắn là yểu tử, chết một cách thê thảm.

- Nữ mệnh

+ Liêm miếu, vượng hay đắc địa thủ Mệnh, là người nghiêm nghị, đoan chính, thanh cao, lại rất tài giỏi và đảm đang. Tuy được hưởng giàu sang, sống lâu, nhưng phải muộn lập gia đình mới tránh được nỗi ưu phiền, đau đớn vì chồng con. Đây, nếu Liêm gặp sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, tất được hưởng phú qúy đến tột bực và phúc thọ song toàn.

+ Liêm hãm địa là người ty tiện, độc ác, khắc chồng hại con. Suốt đời vất vả có nhiều bệnh tật, hay mắc tai nạn nếu không ly tổ lập nghiệp ở phương xa, chắc chắn không thể sống lâu được. Đâu nếu Liêm gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, thật là một đời cùng khốn cô đơn, phải lang thang phiêu bạt, lại có tàn tật hay có bệnh khó chữ, thường mắc những tai nạn khủng khiếp và dĩ nhiên là yểu tử, nhưng chết một cách rất thê thảm.

Ý nghĩa tài lộc, phúc thọ

+ Liêm miếu, vượng hay đắc địa là người liêm khiết thẳng thắn, can đảm, dũng mãnh, nhưng nghiêm nghị, nóng nảy, được hưởng giàu sang và sống lâu. Đây, nếu Liêm gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, nhất là: Phủ, Tướng, Xương, Khúc, Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc, tất được hưởng phú qúy đến tột bực và có uy danh lừng lẫy.

+ Liêm đắc địa gặp Xương, Khúc đồng cung là người có tài thao lược, biết quyền biến.

+ Liêm miếu, vượng hay đắc địa, gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, nhất là Sát tinh, Kỵ, Hình nên suốt đời chẳng mấy khi được xứng ý toại lòng, vì công danh trắc trở, tiền tài khó kiếm, lại hay bị bắt bớ giam cầm, hay mắc những tai nạn bất kỳ.

+ Liêm hãm địa, là người khắc nghiệt, thâm hiểm, có óc kinh doanh, khéo tay, thích đua chen, thường chuyên về kỹ nghệ, máy móc hay thủ công. Nhưng suốt đời vất vả, có nhiều bệnh tật nên sức khỏe suy kém, lại khó tránh thoát được tù tội và những tai nạn đáng lo ngại, nếu không ly tổ lập nghiệp ở phương xa, tất không thể sống lâu được.

+ Liêm hãm địa, gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, nhất là: Sát tinh, Kỵ, Hình, thật là chung thân cùng khốn cô đơn, phải lang thang phiêu bạt, lại có tàn tật hay có bệnh khó chữa, thường mắc những tai nạn khủng khiếp, chân tay thường bị vướng vào xích xiềng, và dĩ nhiên là yểu tử, nhưng chết một cách rất thê thảm.

+ Liêm hãm địa Tỵ, Hợi, gặp Kỵ đồng cung, cũng đỡ mờ ám xấu xa. Vậy cho nên người mà cung Mệnh có cách này, cũng được no cơm ấm áo, và chẳng đáng lo ngại nhiều về những bệnh tật hay những tai nạn xảy đến trong đời.

+ Liêm hãm địa Tỵ, Hợi, gặp Xương hay (Khúc) Kỵ đồng cung lại rất mờ ám xấu xa. Tuổi Bính mà cung Mệnh có cách này, bị khắc hại nhiều nhất.

+ Liêm hãm địa Mão, Dậu, gặp Hỏa, Linh hội hợp là người gian ác, lòng lang dạ thú

Những Bộ Sao Tốt

Liêm Trinh, Thiên Tướng: Dũng mãnh, oai quyền, danh giá, thường là quân nhân. Thiên Tướng đi với Liêm Trinh rất lợi vì có tác dụng khắc chế nóng tính của sao Liêm Trinh.

Liêm Trinh, Hồng Loan, Thiên Khôi, Văn Xương, Văn Khúc: Mưu sĩ giỏi, đắc dụng.

Liêm Trinh, Văn Xương, Văn Khúc: Có tài thao lược, quyền biến.

Liêm Trinh, Thiên Hình đắc địa: Quan võ giỏi, thẩm phán sắc. Nhưng cách này rất dễ bị hình tù vì cả hai sao đều cũ về tù tội.

Những Bộ Sao Xấu

Liêm Trinh, Phá Quân, Hỏa Tinh hãm địa: Tự tử, trong đời chắc chắn có lần tự tử.

Liêm Trinh, Phá Quân, Hóa Kỵ, Tham Lang: Chết cháy.

Liêm Trinh, Địa Kiếp, Kình Dương ở Mão, Dậu: Bị hình tù, bị ám sát (cũng như Liêm, Kình, Đá, Hỏa, Linh).

Liêm Trinh, Địa Kiếp ở Tỵ, Hợi: Tự ải trong tù.

Những bộ sao nói trên có ý nghĩa tương tự nhau. Tất cả đều báo hiệu sự tự tử, tai nạn đau thương, và ngục tù; không bị nạn này tất phải bị nạn kia. Cho nên Liêm Trinh là một sao tối nguy hiểm nếu đi với sát tinh mà thiếu sao giải.

Liêm Trinh ở Cung Phụ Mẫu

- Đơn thủ tại Dần, Thân: cha mẹ nghèo, nhưng có đức. Sớm xa cách hai thân. Có làm con nuôi khác họ mới tránh được mọi bình khắc.

- Phủ đồng cung: hai thân giàu có, nhưng bất hòa. Con không hợp tính cha mẹ.

- Tướng đồng cung: cha mẹ hay gặp tai nạn bất kỳ và rất vất vả. Con không thể chung sống được với cha mẹ. Nên làm con nuôi họ khác.

- Sát đồng cung: sớm khắc một trong hai thân. Nếu không, cha mẹ và con cũng không thể sống được với nhau. Trong nhà thường có sự bất hòa cha mẹ hay mắc tai họa rất đáng lo ngại.

- Tham đồng cung: cha mẹ khốn cùng hay mắc tai ương và xa cách nhau. Sớm lìa bỏ hai thân.

Liêm Trinh ở Cung Phúc Đức

- Liêm Trinh: mộ chú, nếu lúc sinh ra đời chú đã khuất bóng hay là mộ ông chú, nếu chú

còn, ông chú đã mất. Đất khô khan, gồ ghề, nổi cao như hình người ngồi, lại có sắc đỏ hay vàng.

- Đơn thủ tại Dần, Thân: được hưởng phúc. Trong họ ít của, hiếm người.

- Phủ đồng cung: suốt đời sung sướng, phúc thọ song toàn. Trong họ có nhiều người giàu sang.

- Tướng đồng cung: được hưởng phúc. Họ hàng khá giả nhưng hiếm người.

- Phá đồng cung: vất vả lao khổ, phải xa quê hương mới sống lâu. Họ hàng ly tán.

- Tham đồng cung: giảm thọ, khó tránh được tai ương, họa hại. Trong họ có nhiều người bần

hàn hay mắc tù tội, thường phải bạt quán xiêu cư.

- Sát đồng cung: giảm thọ, hay gặp nguy hiểm, phải xa quê hương mới mong được an toàn. Trong họ có nhiều người chết non một cách thê thảm. Nếu không, cũng phải mang tàn tật, ác bệnh, hay mắc tù tội, khốn cùng.

Liêm Trinh ở Cung Điền Trạch

- Đơn thủ tại Dần, Thân: phá tán tổ nghiệp, hay là có mà không được thừa hưởng. Lao tâm khổ tứ về những chuyện có liên quan đến nhà đất.

- Phủ đồng cung: được hưởng của tổ nghiệp để lại. Nhưng cơ nghiệp càng về sau càng sa sút, không giữ được bền vững.

- Tướng đồng cung: nhà đất trước ít sau nhiều.

- Sát đồng cung: tự tay lập nghiệp. Thành bại thất thường. Buổi đầu rất vất vả. Nhưng đến lúc có tuổi, có nơi ăn chốn ở chắc chắn.

- Phá đồng cung: lập nghiệp ở buổi đầu hay bị thất bại, phá tán. Về sau mới được bền vững.

- Tham đồng cung: nhà đất của tổ nghiệp để lại khá nhiều, nhưng không được thừa hưởng. Về già cũng không có nơi an chốn ở chắc chắn.

Liêm Trinh ở Cung Quan Lộc

- Đơn thủ tại Dần, Thân: võ nghiệp hiến đạt, có uy quyền kiêm nhiếp cả việc chính trị, được nhiều người kính nể.

- Phủ đồng cung: phú qúy song toàn, lập được nhiều chiến công, có uy quyền hiển hách.

- Tướng đồng cung: văn võ kiêm toàn, được hưởng giàu sang, được nhiều người kính nể.

- Sát đồng cung: chuyên về quân sự nhưng thăng giáng thất thường, nhanh lên để rồi chóng xuống. Trong cái may thường chứa đựng nhiều cái rủi, tai họa đi liền với lợi danh. Nếu kinh doanh, buôn bán hay chuyên về kỹ nghệ, cũng phát đạt và được yên thân.

- Phá đồng cung: nên chuyên về kỹ nghệ, hay thương mại. Nếu chen chân vào đường công danh, tất chẳng được xứng ý toại lòng, suốt đời hậm hực.

- Tham đồng cung: có võ chức, nhưng nhỏ thấp. Trên đường công danh thường gặp nhiều trở ngại, tai ương, nhất là hình ngục. Chỉ có lánh mình ra khỏi chỗ lợi danh, mới được an toàn.

Liêm Trinh ở Cung Thiên Di

- Đơn thủ tại Dần, Thân: luôn luôn gập qúy nhân, được nhiều người kính trọng, mọi sự hành thông.

- Phủ đồng cung: ra ngoài lợi ích hơn ở nhà, tài lộc dễ kiếm, qúy nhân trợ giúp cũng nhiều.

- Tướng đồng cung: được nhiều người vị nể, hay lui tới những chỗ sang trọng. Vì sẵn có oai phong nên những kẻ tiểu nhân mới trông thấy đã khiếp phục.

- Phá đồng cung: xa nhà không được lợi ích, may ít rủi nhiều, sau này chết ở xa nhà.

- Sát đồng cung: hay gặp tai nạn ở giữa nơi đường xá, không nên lui tới những nơi có nhiều súng ống gươm đao. Lúc nhắm mắt, phải đắp điếm tạm một nơi để chờ người thân thích đến đưa đón.

- Tham đồng cung: ra ngoài tất bít lợi, hay gặp những tai ương bất kỳ, nhất là về hình ngục hay kiện tụng. Qúy nhân ít gặp, còn tiểu nhân, ác nhân, lúc nào cũng sẵn sàng làm hại.

Liêm Trinh ở Cung Tật Ách

- Có tỳ vết ở chân tay hay ở lưng.

- Tham đồng cung: mắt kém, hay mắc tù tội.

- Tham đồng cung tại Tỵ, Tướng, Hỏa đồng cung: tự tử.

- Tham, Không, Kiếp đồng cung: chết một cách thê thảm.

- Sát đồng cung: mắt rất kém, mắc tai nạn xe cộ hay đao thương.

- Kỵ đồng cung tại Dần, Thân: chết bất đắc kỳ tử, hoặc vì mắc tai nạn, hoặc vì ngộ độc.

Liêm Trinh ở Cung Tài Bạch

- Độc thủ tại Dần, Thân: phải cạnh tranh ráo riết mới kiếm được tiền, làm giàu chậm chạp nhưng chắc chắn.

- Phủ hay Tướng đồng cung: giàu có lớn, giữ của bền vững.

- Sát đồng cung: đi kiếm tiền trong lúc náo loạn nhưng tai ương thường đi liền với tiền bạc.

- Phá đồng cung: tiền tài thất thường, hay hoang phí hao tán nhưng hết lại có.

- Tham đồng cung: túng thiếu, suốt đời khổ sở vì tiền. Hay mắc tai họa vì tiền, nhất là kiện tụng và hình ngục.

Liêm Trinh ở Cung Tử Tức

- Đơn thủ tại Dần, Thân: hai con.

- Phủ đồng cung: từ ba đến năm con, về sau đều khá giả.

- Tướng đồng cung: hai con, rất khó nuôi nhưng lớn lên rất hiển đạt.

- Phá đồng cung: một con, nếu sinh nhiều công không nuôi được toàn vẹn. Khó nuôi con, sau này con cũng không khá giả.

- Sát đồng cung: sinh nhiều, nuôi ít. rất hiếm con, may mắn lắm mới có một con. Nhưng phải mang tàn tật hay mắc ác bệnh, suốt đời phiền muộn vì con.

- Tham đồng cung: rất khó nuôi con, thường chỉ có một con và sau này cũng không khá giả.

Liêm Trinh ở Cung Phu Thê

- Đơn thủ tại Dần, Thân: ba lần lập gia đình, trai lấy vợ khó, gái lấy chồng nghèo.

- Phủ đồng cung: nên muộn lập gia đình. Vợ chồng tính cương cường nhưng chung sống được với nhau đến lúc bạc đầu. Gia đình sung túc và thường có danh giá.

- Tướng đồng cung: vợ chồng bất hòa, nếu không tử biệt cũng sinh ly.

- Sát đồng cung: hình khắc hay sinh ly, nên muộn lập gia đình để tránh mấy độ buồn thương.

- Phá đồng cung: vợ chồng bất hòa, hay xa cách nhau, sinh kế khó khăn.

- Tham đồng cung: vợ chồng ở với nhau hay sinh tai họa, dễ gặp nhau lại dễ bỏ nhau, nếu không cũng sớm khắc.

Liêm Trinh ở Cung Huynh Đệ

- Đơn thủ tại Dần, Thân: nhiều nhất là hai người

- Phủ đồng cung: nhiều nhất là ba người, đều khá giả, nhưng không hợp tính nhau.

- Tướng đồng cung: hai người, đều qúy hiển.

- Phá đồng cung: một người, nhưng bần cùng và thường mang tật.

- Sát đồng cung may mắn lắm mới có một người, thường mang tật, nên suốt đời cùng khổ, hay chết non, anh chị em bất hòa.

- Tham đồng cung: may mắn lắm mới có hai người nhưng ly tán, cùng khổ. Trong nhà thiếu hòa khí. Anh chị em oán hận lẫn nhau, đôi khi lại còn cãi nhau.

Liêm Trinh ở Hạn

- Sáng sủa tốt đẹp lại gặp nhiều sao rực rỡ hội hợp, nên danh vị cao thăng, tài lộc dồi dào.

- Tỵ, Hợi: giao du với người lạ rất bất lợi, hay sinh hiềm thù, dễ mắc tù tội.

- Tỵ, Hợi, Sửu, Mùi gặp Hỏa, Linh: mắc tai nạn khủng khiếp, hay bị lừa đảo, hãm hại.

- Tỵ, Hợi gặp Hình: không thoát được lao tù.

- Tham, Sát, Phá: đau yếu bị oán trách.

- Phá đồng cung gặp Kiếp, Kình: mắc kiện tụng, dễ bị tù tội.

- Kình, Đà: gặp nhiều sự rủi ro, hay phải bận lòng lo lắng

- Hình, Kỵ, Kình, Đà: tai nạn về đao thương hay súng đạn, khó tránh được lưu huyết.

Sao Thiên Đồng

 Chủ sao Thiên Đồng chính là Văn Vương, người đứng đầu Tây Bá Hầu đã dựng lên nhà Chu, tạo nền tảng vững chắc cho Vũ Vương Cơ Phát đem quân phạt Trụ. Sao Thiên Đồng chính là chủ về dung hòa, ôn thuận giống như tính cách và con người của Tây Bá Hầu Cơ Xương vậy.

Thiên Đồng thuộc Dương Thủy, là sao thứ tư trong chòm Nam Đẩu, ví như Phúc tinh, chủ hưởng thụ và ý chí.

Nếu có Hóa Lộc cũng với cát tinh hội hợp thì tốt, nhưng cũng ngại vì tham hưởng thụ mà thành mềm yếu. Nguyên do lúc này gặp được hoàn cảnh tốt một số ít sát tinh cũng đủ kích động, gặp sự kích động này Thiên Đồng dễ thành tựu lớn nên người ta cũng thêm khó khăn vất vả. Chỉ thấy sát mà không thấy lộc, thì là không tốt đối với Thiên Đồng. Thiên Đồng cũng rất ưa Hóa Quyền, vì có thể tăng cường ý chí, bằng như hội đủ Lộc Quyền Khoa Kỵ, mà sát diệu không nặng nề thì cũng chủ phú quý song toàn. Ngại nhất là Thiên Đồng Hóa Kỵ là cách cục xấu.Thiên Đồng tuy là Phúc tinh, nhưng cái Phúc ấy cũng có khuyết điểm, hơn thế nữa phải đắc Lộc mới thực sự là Phúc. Tuy nhiên, khi đắc Lộc trừ phi có cách cục đặc biệt tốt, không thì vẫn phải trải qua một đoạn gian khổ, có lúc rất vất vả, cũng không phải là tốt. Nếu không phải như đã luận thì trừ phi có cách cục rất khác lạ. Thông thường Thiên Đồng đều có một điểm là “vãn vận” (vận muộn), cho dù Thiên Đồng được đánh giá là Phúc, cũng có lúc nhầm lẫn. 

Đặc điểm Sao Thiên Đồng

- Phương Vị: Nam Đẩu Tinh

- Tính: Dương

- Hành: Thủy

-  Loại: Phúc Tinh

- Chủ về: Phúc thọ

- Tượng cơ thể: Bộ máy tiêu hóa

-Tên gọi tắt: Đồng

Vị trí Thiên Đồng ở các Cung

- Miếu địa: Dần, Thân.

- Vượng địa: Tý.

- Đắc địa: Tỵ, Hợi.

- Hãm Địa: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Ngọ, Dậu.

Thiên Đồng thuộc về chòm sao Tử Vi và là sao thứ 5 trong nhóm: Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh. Thiên Đồng ở những Cung khác nhau sẽ mang đến ý nghĩa phúc thọ, tai họa khác nhau.

Thiên Đồng ở Cung Mệnh

Ý nghĩa tướng mạo, ngoại hình, tính cách


+ Cung Mệnh có Thiên Đồng tọa thủ, nên thân hình nở nang, hơi thấp, chân tay ngắn, da trắng, mặt vuông vắn đầy đặn. Nếu hãm thì mập và đen

+ Đồng miếu, vượng hay đắc địa là người thông minh, có tính khoan hòa, nhân hậu, từ thiện, nhưng không quả quyết, không bền chí, hay thay đổi ý kiến, công việc. Tuy vậy, vẫn được hưởng giàu sang và phúc thọ song toàn.

+ Đồng đắc địa tại Tỵ, Hợi, lại là người thích phiêu lưu, nay đây mai đó, và hay thay đổi chỗ ở.

+ Đồng hãm địa là người kém thông minh và nông nổi, cũng có tính nhân hậu, nhưng thay đổi thất thường, không quả quyết, không có định kiến, làm việc gì rồi cũng chóng chán, lại thích chơi bời ăn uống, tuy sống lâu nhưng rất vất vả, thường phải ly tổ bôn ba, luôn luôn lo lắng vì sinh kế, lại hay mắc tiếng thị phi. Cung Mệnh có Đồng hãm địa tọa thủ, nên đi buôn.

+ Đồng hãm địa, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, lại là người hay nói khoác lác và không cẩn ngôn. + Đồng hãm địa Ngọ, là người có óc kinh doanh.

+ Đồng hãm địa Tuất, Ngọ ứng hợp với tuổi Đinh. Vậy cho nên tuổi Đinh mà cung Mệnh an tại Tuất, Ngọ có Đồng tọa thủ, tất nhiên là khá giả.

- Nam mệnh

+ Đồng miếu, vượng hay đắc địa thủ Mệnh, gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, tất được hưởng phú qúy đến tột bậc, có uy danh lừng lẫy. Phúc thọ song toàn.

+ Đồng hãm địa gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, thật là suốt đời lao khổ, phải lang thang phiêu bạt, thường có bệnh tật khó chữa, hoặc ở mắt, hoặc ở bộ tiêu hóa, lại hay mắc tai nạn và không thể sống lâu được.

- Nữ mệnh

+ Đồng miếu, vượng hay đắc địa, Mão thủ Mệnh, là người đảm đang, có đức độ, vượng phu ích tử.

+ Đồng đắc địa, Tỵ, Hợi, là người đảm đang, nhưng đa dâm, thường phải sớm ly tổ.

+ Đồng miếu, vượng hay đắc địa, tất được hưởng giàu sang và sống lâu. Đây nếu Đồng gặp nhiều  sao mờ ám xấu xa hội hợp, chắc chắn là được hưởng phú qúy đến tột bực, và phúc thọ song toàn.

+ Đồng đắc địa, Tỵ, Hợi, hay hãm địa, phải muộn lập gia đình hay lấy kế lấy lẽ, mới tránh buồn thương.

+ Đồng hãm địa là người hoang đãng dâm dật, tuy được no cơm ấm áo và sống lâu, nhưng suốt đời vất vả, thường phải sớm ly tổ, bôn ba, nay đây mai đó. Nếu Đồng gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, thật là chung thân cùng khốn cô đơn, khắc chồng hại con, phải lang thang phiêu bạt, lại có bệnh tật khó chữa, hoặc ở mắt, hoặc ở bộ tiêu hóa, hoặc ở tử cung và hay mắc tai nạn: tuổi thọ cũng bị chiết giảm.

Ý nghĩa Công danh, tài lộc, phúc thọ

+ Đồng đắc địa tại Tỵ, Hợi, khắc tuổi Đinh, Canh, vậy cho nên tuổi Đinh, Canh mà cung Mệnh an tại Tỵ, Hợi, có Đồng tọa thủ, tất suốt đời chẳng mấy khi được xứng ý toại lòng.

+ Đồng miếu, vượng hay đắc địa, gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, nhất là Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc, chắc chắn là được hưởng phú qúy đến tột bực và có uy danh lừng lẫy.

+ Đồng miếu, vượng hay đắc địa, gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, nhất là Sát tinh, Hình tuy suốt đời vẫn được no cơm ấm áo, nhưng lao tâm khổ tứ, sức khỏe lại suy kém, thường có bệnh tật hoặc ở mắt, hoặc ở bộ tiêu hóa.

+ Đồng hãm địa Ngọ, là người có óc kinh doanh.

+ Đồng hãm địa Tuất, Ngọ ứng hợp với tuổi Đinh. Vậy cho nên tuổi Đinh mà cung Mệnh an tại Tuất, Ngọ có Đồng tọa thủ, tất nhiên là khá giả.

+ Đồng hãm địa gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, nhất là Xương Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc phải đoán là cũng có công danh và tiền tài.

+ Đồng hãm địa gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, nhất là Sát tinh, Kỵ, Hình. Thật là suốt đời lao khổ phải lang thang phiêu bạt, thường có bệnh tật khó chữa, hoặc ở mắt, hoặc ở bộ tiêu hóa, lại hay mắc tai nạn và không thể sống lâu được.

Những Bộ Sao Tốt

Thiên Đồng, Kình ở Ngọ: Có uy vũ lớn, được giao phó trấn ngự ở biên cương.

Thiên Đồng, Thiên Lương ở Dần, Thân: Làm nên, danh giá. Ngoài ra có khiếu về y khoa, dược khoa, sư phạm rất sắc bén.

Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương cách: Phúc thọ, làm công chức.

Thiên Đồng, Thiếu Âm đồng cung ở Tý: Phúc hậu và thọ; đẹp đẽ.

Những Bộ Sao Xấu

Thiên Đồng, Không, Kiếp, Hỏa Linh: U mê, nghèo khổ, sống qua ngày, ăn mày.

Thiên Đồng, Thái Âm ở Tý, Hổ, Khốc, Riêu: Đàn bà đẹp nhưng bạc phận, khóc chồng.

Thiên Đồng, Hóa Kỵ ở Tuất: Rất xấu trừ phi tuổi Đinh thì phú quý.

Thiên Đồng ở Cung Phụ Mẫu

- Đơn thủ tại Mão: cha mẹ khá giả. Lợi ích cho mẹ nhiều hơn cho cha.

- Đơn thủ tại Dậu: cha mẹ bình thường. Sức khỏe của mẹ suy kém.

- Đơn thủ tại Tỵ, Hợi: hai thân cách xa cách nhau. Con thường phải xa cha mẹ, nhưng gia đình sung túc.

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất: Trong nhà hay có sự bất hòa. Hai thân xa cách nhau. Con và cha mẹ không thể chung sống lâu dài với nhau được. Nên làm con nuôi họ khác.

- Lương đồng cung: cha me khá giả và sống lâu.

- Nguyệt đồng cung tại Tý: cha mẹ vinh hiển và nhiều của cải.

- Nguyệt đồng cung tại Ngọ: Trong nhà hay có sự bất hòa. Sớm xa cách một trong hai thân.

- Cự đồng cung: sớm xa cách hai thân. Trong nhà thiếu hòa khí. Có đi xa hay làm con nuôi họ khác mới tránh được mọi sự hình khắc. Nhưng dù sao chăng nữa, ít nhất là phải sớm lìa bỏ một trong hai thân.

Thiên Đồng ở Cung Phúc Đức

Thiên Đồng: mộ tổ bốn đời, để nơi đất trũng, xung quanh có nước.

- Đơn thủ tại Mão: được hưởng phúc, sống lâu, nhưng thường hay thay đổi chí hướng, hay canh cải công việc. Càng xa quê hương lại càng khá giả. Họ hàng phân tán làm ăn ở phương xa. Trong họ thường có thần đồng xuất hiện.

- Đơn thủ tại Dậu: giảm thọ. Suốt đời lao tâm khổ tứ, hay phải thay đổi công việc và chí hướng, nhưng chẳng được xứng ý toại lòng. Có lập nghiệp ở xa quê hương mới mong được đủ ăn, đủ mặc. Họ hàng ly tán.

- Đơn thủ tại Tỵ, Hợi: suốt đời sung sướng, nhưng giảm thọ. Muốn sống lâu, nên xuất ngoại, nay đây mai đó. Họ hàng ly tán, phiêu bạt, trai gái rất phóng đãng.

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất, Cự đồng cung: giảm thọ, suốt đời vui ít buồn nhiều, hay mắc tai nạn, khẩu thiệt, kiện cáo. Phải ly tổ, xa gia đình mới mong được yên thân. Họ hàng ly tán, thường tranh chấp lẫn nhau.

- Lương đồng cung: suốt đời thanh nhàn, được hưởng phúc sống lâu. Trong họ có nhiều người qúy hiến, giàu sang và thường có thần nhân giáng hạ.

- Nguyệt đồng cung tại Tý: được hưởng phúc, sống lâu, Nên lập nghiệp ở xa quê hương, bản quán. Họ hàng qúy hiển, có danh giá, uy quyền tế thế.

- Nguyệt đồng cung tại Ngọ: giảm thọ. Phải ly tổ bôn ba mới mong được yên thân. Họ hàng càng ngày càng sa sút phiêu bạt.

Thiên Đồng ở Cung Điền Trạch

- Tự tay lập nghiệp, trước khó sau dễ.

- Đơn thủ tại Mão hoặc Nguyệt đồng cung tại Tý: giàu có lớn. Tay trắng lập nghiệp, càng ngày càng thịnh vượng.

- Đơn thủ tại Dậu hoặc Nguyệt đồng cung tại Ngọ: thành bại thất thường. Nhưng về già cũng có chốn nương thân.

- Đơn thủ tại Tỵ, Hợi: có nhà đất, nhưng rất ít, hay phải thay đổi, mua vào bán ra luôn luôn.

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất: nhà đất hầu như không có. Nếu có cũng rất nhỏ mọn. Suốt đời hay gặp những sự tranh chấp về điền thổ.

- Lương đồng cung: ban đầu có ít nhà đất. Nhưng về sau có rất nhiều.

- Cự đồng cung: không có nhà đất, về già may mắn lắm mới có một chốn nương thân.

Thiên Đồng ở Cung Quan Lộc

- Đơn thủ tại Mão: văn võ kiêm toàn nhưng hay thay đổi công việc.

- Đơn thủ tại Dậu: công danh muộn màng, chức vị nhỏ thấp, lại hay thay đổi, thăng giáng. Nên chuyên về thương mại hay kỹ nghệ.

- Đơn thú tại Tỵ, Hợi: công danh phú qúy như đám mây nổi, làm việc hay chóng chán, thích di chuyển. Nên làm công việc có tính cách lưu động.

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất: công việc di chuyển luôn luôn, công danh trước nhỏ sau lớn, có tài ăn nói và luận lý.

- Nguyệt đồng cung tại Tý: công danh hiển hách, có tài can gián người trên

- Nguyệt đồng cung tại Ngọ: nên chuyên về kỹ nghệ hay doanh thương.

- Lương đồng cung: phú qúy song toàn, rất nổi tiếng nếu chuyên về y khoa hay sư phạm. Bước vào trường chính trị cũng toại lòng.

- Cự đồng cung: rất chật vật trong đường công danh, phải nhờ người trên dìu dắt, giúp đỡ, hay mắc thị phi hình sự.

Thiên Đồng ở Cung Thiên Di

- Đơn thủ tại Mão: càng xa nhà mọi sự càng được hành thông, không nên ở lâu một chỗ, hay gặp qúy nhân phù trợ.

- Đơn thủ tại Dậu: hay phải xa nhà nhưng hay gặp những sự phiền lòng. Sau này chết ở xa bản quán.

- Đơn thủ tại Tỵ, Hợi: nay đây mai đó, chết ở xa nhà.

- Đơn thủ tại Thìn Tuất: ra ngoài hay mắc tai họa, nhất là thị phi, kiện tụng.

- Nguyệt đồng cung tại Tý, Lương đồng cung: luôn luôn gặp qúy nhân phù trợ, được nhiều người kính trọng, buôn bán phát tài.

- Nguyệt đồng cung tại Ngọ: hay gặp sự cạnh tranh và ghen ghét, ra ngoài rất bất lợi.

- Cự đồng cung: hay mắc thị phi, quan sự nhưng hay được gần những chỗ quyền qúy. Nói

được nhiều người tin dầu đôi khi nói quá đáng, hay sai sự thật. Lúc nhắm mắt thường ở xa nhà.

Thiên Đồng ở Cung Tật Ách

- Đau bụng, bộ máy tiêu hóa không được lành mạnh.

- Cự đồng cung: bệnh tâm khí

- Nguyệt đồng cung: bệnh huyết khí.

- Kỵ đồng cung: đau dạ dày hay ruột gan.

- Kỵ, Hình, Thai, Mộc: bệnh phạm phòng.

Thiên Đồng ở Cung Tài Bạch

- Đơn thủ tại Mão, Nguyệt đồng cung tại Tý: tay trắng làm giàu, càng về sau càng lắm của.

- Đơn thủ tại Dậu: tiền tài tụ tán thất thường.

- Đơn thủ tại Tỵ, Hợi: lang thang nay đây mai đó đi kiếm tiền nhưng lại rất hoang phí và bị hao tán nên không giữ được của.

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất: túng thiếu

- Lương đồng cung: tất giàu có, buôn bán kinh doanh càng ngày càng phát đạt.

- Nguyệt đồng cung tại Ngọ: phải vất vả mới kiếm đượс tiền, về già mới có của.

- Cự đồng cung: tiền tài tụ tán thất thường nhưng hay túng chiếu và thường mắc thị phi, kiện tụng vì tiền. Có xa nhà hay lưu lạc nơi đất khách quê người mới phát đạt.

Thiên Đồng ở Cung Tử Tức

- Đơn thủ tại Mão: từ bốn con trở lên.

- Đơn thủ tại Dậu: hai con, nếu đổi chỗ ở luôn mới có nhiều con.

- Đơn thủ tại Tỵ, Hợi: hai con, nếu sinh thêm cũng không nuôi được toàn vẹn. Sau này con

cái thường ly tán, phiêu bạt. Trong số con đó, ít nhất cũng phải có một người du đãng, chơi bời.

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất: rất khó nuôi con, may mắn lắm mới có một con.

- Nguyệt đồng cung Tý: năm con, trong số đó có qúy tử là thần nhân giáng thế.

- Nguyệt đồng cung tại Ngọ: may mắn lắm mới có hai con.

- Lương đồng cung tại Dần: năm con, trong số đó có qúy tử.

- Lương đồng cung lại Thân: ba con, nếu sinh con gái dầu lòng tất được năm con.

- Cự đồng cung: may mắn lắm mới có ba con nhưng rất khó nuôi. Lớn lên con cái bất hòa và ly tán.

Thiên Đồng ở Cung Phu Thê

- Đơn thủ tại Mão: chậm cưới mới được dễ dàng mọi sự và chung sống với nhau đến lúc bạc đầu, vợ đẹp và hiền. Chồng nên là cung trưởng, vợ nên là cung thứ.

- Đơn thủ tại Dậu: hay có sự bất hòa trong gia đình, thường phải xa cách nhau.

- Đơn thủ tại Tỵ: dễ gặp nhau lại dễ xa nhau

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất: vợ chồng hay cãi lộn, nếu không tử biệt cũng sinh ly.

- Lương đồng cung: sớm lập gia đình, hai người thường có họ với nhau, nếu không cũng là cung của hai gia đình đã giao du thân mật với nhau từ lâu, vợ chồng đẹp đôi và giàu sang.

- Nguyệt đồng cung tại Tý: cũng như trên, nhưng chồng hay nể vợ và được nhờ vợ nhiều.

- Nguyệt đồng cung tại Ngọ: muộn lập gia đình mới tránh được chia ly.

- Cự đồng cung: bỏ nhau, nếu không cũng phải xa cách rất lâu rồi mới đoàn tụ, vợ chồng rất thông minh.

Thiên Đồng ở Cung Huynh Đệ

- Đơn thủ tại Mão: bốn người trở lên.

- Đơn thủ tại Dâu: nhiều nhất là ba người, thường sớm xa cách nhau.

- Đơn thủ tại Tỵ, Hợi: nhiều nhất là hai người, thường xa cách nhau từ lúc thiếu thời, có người du đãng, hoang tàng.

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất: may mắn lắm mới có một người nhưng cũng phiêu bạt hay cùng khổ cô đơn.

- Lương đồng cung: ba người, khá giả.

- Nguyệt đồng cung tại Tý: bốn hay năm người, chị em nhiều hơn anh em, tất cả đều thuận hòa và khá giả.

- Nguyệt đồng cung tại Ngọ: nhiều nhất là hai người, anh chị em bất hòa và xa cách nhau.

- Cự đồng cung: may mắn lắm mới có hai người, trong nhà thiếu hòa khí, anh chị em có sớm xa cách nhau mới được toàn vẹn, có người mang cố tật hay mắc hình ngục.

Thiên Đồng ở Hạn

- Sáng sủa tốt đẹp hay mờ ám xấu xa: thay đối chỗ ở hay công việc.

- Sáng sủa tốt đẹp: mọi sự hành thông, danh tài hưng vượng.

- Mờ ám xấu xa: mọi sự trước hành thông, sau bế tắc, hao tán tiền tài, hay mắc kiện tụng, nếu có quan chức tất bị bãi truất.

- Kình, Linh: toại ý trong việc cầu hôn.

- Kỵ: đau bụng.

Sao Vũ Khúc

 Sao Vũ Khúc là nơi cư ngụ của Vũ Vương, Vũ Vương chính là con trai của Văn Vương Cơ Xương. Vũ Vương vì uất hận Trụ Vương vô đạo đã đem binh thảo phạt. Sau khi chết đi Vũ Vương được mời lên chưởng quản sao Vũ Khúc.

ũ Khúc thuộc Âm Kim, là sao thứ 6 của chòm Bắc đẩu, lấy hành động kiếm tiền làm chính, tính cách thì cương liệt, quyết đoán.Rất tốt nếu cư Quan lộc, Tài bạch cung, nếu lâm vào cung Mệnh và các cung Lục thân thì không tốt, ngại vì tính cương khắc thái quá.Người Vũ khúc tính cứng rắn, cho nên rất ngại Dương Đà cũng như Thiên Hình vì tính cô khắc càng tăng.

Sao Vũ Khúc đối với Tứ Hóa cũng đặc biệt nhạy cảm, gặp Hóa lộc thì rất tốt vì Vũ khúc là tài tinh, Hóa lộc cùng một tính, nên tài khí càng vượng, cũng có thể giảm nhẹ tính cương khắc của Vũ Khúc. Hóa quyền, Hóa kỵ gia tăng tính chất cương liệt của Vũ khúc cho nên đồi với Vũ khúc không được tốt lắm. Nếu gặp Hóa kỵ, cứng quá ắt gãy, vì thế Vũ Khúc – Hóa kỵ thường thường là Bại cục ở chỗ đó.

Người Vũ khúc tính cô khắc, cho nên cần Văn Xương, Văn Khúc cùng hội hợp để trung hòa, cũng giống thế – rất cần Thiên Phủ đồng cung. Thiên Phủ là tài khố (kho tiền), hai tài tinh gặp nhau là một sự kết hợp rất tốt, nếu lại có Hóa Lộc, Lộc Tồn thì càng đẹp.Tương đối mà nói, Vũ Phá với Vũ Tướng là hai tổ hợp khó hoàn mỹ, chủ yếu là do Phá Quân gia tăng tình ĐỘNG, lúc này việc gặp Lộc tinh mới tỏ ra rất quan trọng. Trong Tứ Sát, Vũ khúc sợ nhất Hỏa Linh, bất luận là tính chất nào của Vũ Khúc cũng đều không tốt khi gặp hai sao Hỏa Linh. Vũ khúc ngoại trừ sợ Hỏa Linh ra, đôi khi cũng không tốt nếu gặp Xương Khúc, nhất là gặp một mình Văn Khúc (đương nhiên Văn Khúc – Hóa kỵ thì càng tệ) “song khúc hội” nhất định sẽ có khuyết điểm. Cần lưu ý trong Đẩu số có một cách là Linh Xương Đà Vũ là bại cục.Vũ khúc là tài tinh, nhưng có khá nhiều khuyết hãm, vì thế không nên cừa nhìn thấy Tài đã cho là tốt.Nhưng Vũ khúc lại có hành động tương đối cao thượng, cho nên rất tốt nếu gặp được Khôi Việt cùng với Thiên Cơ hội hợp. 

Đặc điểm Sao Vũ Khúc

- Phương Vị: Bắc Đẩu Tinh

- Tính: Âm

- Hành: Kim

- Loại: Tài Tinh, Quyền Tinh

- Chủ về: Tiền bạc

- Tượng cơ thể: Nốt ruồi

- Tên gọi tắt: Vũ

Vị trí Sao Vũ Khúc ở các Cung

- Miếu địa: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

- Vượng địa: Dần, Thân, Tý, Ngọ.

- Đắc địa: Mão, Dậu.

- Hãm địa: Tỵ, Hợi.

Sao Vũ Khúc là sao chủ về Tiền Bạc, Giàu Có, Sung Túc. Sao Vũ Khúc là một trong 14 sao chính tinh. Vũ Khúc thuộc chòm Sao Tử Vi, Vũ Khúc đứng vị trí thứ 4 trong 6 sao cùng chòm sao Tử Vi.

Sao Vũ Khúc ở Cung Mệnh


Ý nghĩa tướng mạo, ngoại hình, tính cách


+ Cung Mệnh có Vũ Khúc tọa thủ, nên thân hình nở nang cao vừa tầm, nặng cân đầu, mặt dài, vẻ mặt uy nghi: thường cách biệt những người thân: nếu không khắc cha mẹ anh em, tất phải khắc vợ (hay chồng) khắc con hay hiếm con.

+ Vũ hãm địa là người kém thông minh, lại có tánh tham lận và không được lương thiện: suốt đời chẳng mấy khi được xứng ý toại lòng.

+ Sao Vũ Khúc ở cung đắc địa, người đó có thân hình nở nang cao vừa tầm, nặng cân, đầu và mặt dài, vẻ mặt uy nghi, tiếng nói to, có nốt ruồi ở chỗ kín.

+ Sao Vũ Khúc ở cung hãm địa thì người bé nhỏ, thấp, hơi đen, có nhiều ngấn vết, tóc rậm và xấu.

- Nam mệnh

+ Vũ miếu, vượng hay đắc địa thủ Mệnh, gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, tất được hưởng phú qúy đến tột bậc, lại có uy quyền hiển hách, và dĩ nhiên là phải sống lâu.

+ Vũ đắc địa gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, chắc chắn là hiển đạt về võ nghiệp.

+ Vũ miếu, vượng hay đắc địa, gặp Xương hay Khúc đồng cung, tất có tài kiêm văn võ.

+ Vũ hãm địa gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, nên chuyên về thủ công, kỹ nghệ hay kinh doanh buôn bán, nhưng phải bỏ nhà đi lập nghiệp ở phương xa mới khá giả và mới được tăng tuổi thọ.

+ Vũ hãm địa gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, thật là suốt đời cùng khổ cô đơn, phải tha phương cầu thực, thường có tàn tật, có bệnh khó chữa, hay mắc tai họa, dễ bị bắt bớ giam cầm, và không thể sống lâu được.

- Nữ mệnh

+ Vũ miếu, vượng hay đắc địa thủ Mệnh, là người tài giỏi đảm đang, gan góc, được hưởng giàu sang và sống lâu. Nhưng phải muộn lập gia đình mới tránh được những nỗi buồn khổ, đâu đớn vì chồng con, và mới vượng phu ích tử. Đây, nếu Vũ gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, tất được hưởng phú qúy đến tột bậc và phúc thọ song toàn.

+ Vũ hãm địa cũng là người đảm đang, nhưng có tính tham lận, bạo tợn, và hay lấn át chồng, suốt đời phải lao tâm khổ trí, ưu phiền vì chồng con, lại thường mắc bệnh tật, tai họa, tuổi thọ cũng bị chiết giảm. Đây, nếu Vũ gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, tất có thêm tính bạo ngược, lăng loàn, lại phải cùng khốn cô đơn, khắc chồng, hại con, khó tránh thoát được những tai họa khủng khiếp và phải yểu tử.

Ý nghĩa công danh, tài lộc, phúc thọ

+ Vũ miếu, vượng hay đắc địa, là người thông minh, có chí lớn, có tài tổ chức, có óc kinh doanh, tính quả quyết, cương nghị, hiếu thắng, nhưng thẳng thắn, suốt đời được hưởng giàu sang và sống lâu. Đây, nếu Vũ gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp nhất là Tử, Phủ, Tướng, Tham, Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc, tất được hưởng phú qúy đến tột bực mà có uy quyền hiển hách. Người sinh ở phương Tây Bắc mà cung Mệnh có cách này, thật là toàn mỹ.

+ Vũ Miếu địa Sửu, Mùi, lúc thiếu thời tuy vẫn được no cơm ấm áo, nhưng chẳng mấy khi được xứng ý toại lòng, vì công danh trắc trở, tiền tài, tụ tán thất thường, sự nghiệp như lâu đài xây trên bãi cát. Phải từ ngoài ba mươi trở đi mới được hưởng phú qúy song toàn, mới giữ được của cải bền vững là càng về gà lại càng giàu có.

+ Vũ đắc địa Mão, tuy vẫn được hưởng giàu sang, nhưng trong mình thường có tật, lại hay mắc bệnh thần kinh, hay bệnh khí huyết, và khó tránh thoát được tai nạn về dao súng, xe cộ, điện lửa.

+ Vũ đắc địa Dậu, tuy vẫn được hưởng giàu sang, nhưng thường có bệnh nội thương khó chữa và hay mắc tai nạn xe cộ. Người sinh ở phương Tây Bắc mà cung Mệnh an tại Dậu, có Vũ đắc địa tọa thủ, tất có uy quyền hiển hách, khuất phục được quân côn đồ gian ác và được nhiều người kính trọng.

+ Vũ miếu, vượng hay đắc địa, dù có gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, nhất là Sát tinh, tuy kém tốt đẹp nên hay có bệnh tật ở chân, tay, vai, ngực và hay mắc tai họa, nhưng cũng được hưởng giàu sang và sống lâu.

+ Vũ hãm địa là người kém thông minh, lại có tánh tham lận và không được lương thiện: suốt đời chẳng mấy khi được xứng ý toại lòng, vì công danh trắc trở, tiền tài khó kiếm, thường hay phải bỏ nhà đi lập nghiệp ở phương xa, hay đi làm thợ, nếu có của cải của tiền nhân để lại, rồi cũng phá tán đến hết, và dĩ nhiên là tuổi thọ bị chiết giảm. Đây, nếu Vũ gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, nhất là Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc, tất chuyên về thủ công, kỹ nghệ hay kinh doanh buôn bán, nhưng cũng khá giả và được hưởng tuổi thọ lâu dài.

+ Vũ hãm địa gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, nhất là Sát tinh, Kỵ, Hình, nên có tính gian tham độc ác, bất lương, suốt đời cùng khổ cô đơn, lại hay mắc tai nạn khủng khiếp, nếu không có tàn tật: nếu không có bệnh khó chữa, chắc chắn là phải yểu tử chết một cách rất thê thảm.

Những Bộ Sao Tốt

Vũ Khúc, Văn Khúc đắc địa: Thông minh, học rộng, có tài năng, biết cả văn lẫn võ, làm việc bán văn bán võ, nếu là võ nghiệp thì làm ở văn phòng, tham mưu, thiết kế.

Vũ Khúc, Lộc Tồn, Thiên Mã: Lập nghiệp ở xa quê hương nhưng rất thịnh vượng. Nếu ở Dần có cách này thì sự nghiệp rất lớn ở tha hương.

Vũ Khúc, Lộc Tồn, Hóa Quyền ở Dần, Thân: Hết sức giàu có (như Vũ Tướng ở Dần Thân). - Vũ Khúc, Hóa Quyền nữ Mệnh: Khôn ngoan tần tảo, gầy dựng tất cả sự nghiệp cho chồng, chồng phải nể sợ.

Vũ Khúc, Thiên Phủ, Tử Tướng: Phú quý và thọ.

Vũ Khúc, Tấu Thư, Đào Hồng, Thiên Hỷ: Ca sĩ, kịch sĩ giỏi; thợ may khéo.

Vũ Khúc, Thiên Hình, Thiên Riêu, Tấu Thư: thợ mộc giỏi.

Những Bộ Sao Xấu

Vũ Khúc, Phá Quân ở Tỵ Hợi: Tham lận, bất lương, lập nghiệp ở xa, suốt đời vất vả, lao khổ; không giữ được nghiệp tổ mà phải phá tán cho đến hết.

Vũ Khúc, Thất Sát, Phá Quân, Liêm Trinh ở Mão: Bị tai nạn về điện lửa, sấm sét và bệnh thần kinh, cô đơn, bần hàn.

Vũ Khúc, Kình Dương, Đà La, Phá Quân: Bị khốn hại vì tiền.

Vũ Khúc hãm địa Kiếp Sát đồng cung, Kình Dương chiếu: Rất gian ác bất lương, giết người không gớm tay, khát máu.

Vũ Khúc ở cung Phụ Mẫu

- Bất cứ tại vị trí nào cũng sớm khắc một trong hai thân

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất: cha mẹ giàu có, khá giả.

- Phủ đồng cung: cha mẹ giàu có và vinh hiển.

- Tướng đồng cung: cha mẹ có uy quyền và nhiều của cải.

- Tham đồng cung: cha mẹ giàu, nhưng con không hợp tính cha mẹ. Trong nhà thiếu hòa khí.

- Phá đồng cung: hai thân bất hòa. Cha mẹ và con không hợp tính nhau. Gia đình thường ly tán. Nên làm con nuôi họ khác.

- Sát đồng cung: hai thân bần khổ, hay mắc tai ương. Nếu không, tất phải mang bệnh tật, hay đau yếu. Nên sớm xa cách hai thân. Nên làm con nuôi họ khác, để tránh mọi hình khắc.

Vũ Khúc ở Cung Phúc Đức

- Vũ Khúc: mộ tổ năm đời, đát cao trơ trọi, cỏ hình như quả chuông dựng đứng.

- Trong họ hiếm người.

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất, Tham đồng cung: được hưởng phúc sống lâu. Về già, lại càng xứng ý toại lòng. Trong họ thường có người giàu sang hay hiển đạt về võ nghiệp.

- Phủ đồng cung: được hưởng phúc, sống lâu. Họ hàng khá giả.

- Tướng đồng cung: phúc thọ song toàn. Suốt đời hay gặp may mắn. Họ hàng qúy hiển giàu sang.

- Phá đồng cung: phải lập nghiệp ở xa quê hương, phải sớm xa gia đình mới mong được yên thân hưởng phúc sống lâu. Họ hàng ly tán nhưng có người giỏi vế kỹ thuật, mỹ thuật hay kinh doanh buôn bán.

- Sát đồng cung: giảm thọ vì bạc phúc. Suốt đời lao tâm khổ tứ, hay mắc tai họa. Xa quê hương, xa gia đình cũng chẳng được yên thân. Họ hàng sa sút ly tán, thường có người chết non, mang ác tật hay bần khổ.

Vũ Khúc ở Cung Điền Trạch

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất: cơ nghiệp của tổ nghiệp để lại rất lớn. Càng về sau càng thịnh vượng.

- Phủ đồng cung: gìn giữ được tổ nghiệp. Về sau làm nên thịnh đạt bội phần.

- Tướng đồng cung: nhà đất ban đầu mua vào, bán ra thất thường. Về già có nhiều nhà đất.

- Tham đồng cung: có nhà đất của có nghiệp để lại nhưng rất ít, không đáng kể. Tự tay lập nghiệp. Tuy vậy, phải ngoài ba mươi tuổi, mới có nhà đất chắc chắn.

- Phá đồng cung: mua tậu nhà đề rồi lại pha tán. Về sau mới có nơi ăn chốn ở chắc chắn.

- Sát đồng cung: không có nhà đất. May mắn lắm về già mới có một căn nhà nhỏ bé để nương náu.

Vũ Khúc ở Cung Quan Lộc

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất: võ nghiệp hiển đạt, nếu chuyên về doanh thương, cũng có nhiều tài lộc

- Phủ đồng cung: công danh hoạnh đạt, văn võ kiêm toàn, có chức vụ thuộc về tài chánh hay kinh tế.

- Tướng đồng cung: bước vào đường công danh cũng được toại lòng. Nếu không, buôn bán kinh doanh cũng sớm trở nên giàu có.

- Sát đồng cung: võ nghiệp hiển đạt, thường trọng trấn ở nơi xa, lập được nhiều chiến công, nhưng thăng giáng thất thường.

- Phá đồng cung: xuất thân bằng võ nghiệp, nhưng rất chật vật. Nếu kinh doanh buôn bán, rất được xứng ý toại lòng.

- Tham đồng cung: giàu có và thành công trong việc kinh doanh, buôn bán. Nếu có danh chức, cũng chỉ sau một thời gian ngắn lại trở về thương trường. Lúc thiếu thời mọi sự chẳng được hành thông, từ 30 tuổi trở đi, mới được xứng ý toại lòng.

Vũ Khúc ở Cung Thiên Di

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất: buôn bán phát tài, đi xa lợi ích hơn là ở nhà.

- Phủ, hay Tướng đồng cung: gặp qúy nhân phù trợ, được nhiều người kính nể, tài lộc hưng vượng.

- Tham đồng cung: buôn bán phát tài, trước khó sau dễ, hay gặp sự cạnh tranh ráo riết.

- Phá đồng cung: buôn bán cũng được lợi ích, ta ngoài hay gặp sự phiền lòng, đôi khi lại còn mắc tai nạn đáng lo ngại.

- Sát đồng cung: có oai phong, lời nói được nhiều người tin phục nhưng hay gặp những tai ương nguy hiểm. Sau này chiết ở xa nhà.

Vũ Khúc ở Cung Tật Ách

- Bệnh ngoài da, chân tay có tỳ vết.

- Tướng đồng cung: có ám tật.

- Tham, Xương, Khúc đồng cung: nhiều nốt ruồi, hay mắc bệnh có liên quan đến lông tóc.

- Sát đồng cung: bệnh ở bộ máy tiêu hóa.

- Long đồng cung: có nốt ruồi đỏ.

- Riêu đồng cung: bệnh tè thấp hay phù chân tay.

- Riêu, Việt, Toái: câm

Vũ Khúc ở Cung Tài Bạch

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất: giàu có lớn.

- Phủ đồng cung: rất giàu có, giữ của bền vững, thường làm quan về tài chính hay giữ kho tàng.

- Tham đồng cung: từ ngoài 30 trở đi, mới giàu.

- Tướng đồng cung: của cải chồng chất, hay gặp qúy nhân nâng đỡ.

- Sát đồng cung: tay trắng lập nghiệp, buổi đầu vất vả khó khăn, về sau mới được dễ dàng

- Phá đồng cung: tiền vào tay này sang tay kia, trước không sau có. Nên chuyên về kỹ nghệ hay thương mại.

Vũ Khúc ở Cung Tử Tức

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất: sinh nhiều, nuôi ít, sau thường chỉ có một con nhưng rất khá giả.

- Phủ đồng cung: hai con, sau đều qúy hiển.

- Tướng đồng cung: may mắn lắm mới có một con, nếu có con nuôi, tất thêm con đẻ.

- Tham đồng cung: muộn sinh con mới dễ nuôi, sau có hai con.

- Sát đồng cung: cô đơn, hiếm con, nếu may mắn có một con, tất đứa con đó cũng chỉ là phế nhân, nếu không cũng là hạng chơi bời phá tán, có sự hình khắc giữa cha mẹ và con cái.

- Phá đồng cung: hai con, nhưng rất khó nuôi.

Vũ Khúc ở Cung Phu Thê

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất: nên muộn lập gia đình, và lấy người bằng tuổi (hay gần bằng tuổi nhau). Đàn ông nhờ vụ mà có tiền còn đàn bà nhờ chồng mà được hưởng giàu sang.

- Phủ đồng cung: vợ chồng đôi khi có sự bất hòa, nhưng chung hưởng giàu sang đến lúc bạc đầu.

- Tướng đồng cung: đàn ông lấy được vợ đảm đang, tài giỏi và giàu, đàn bà lấy được chồng hiền và sang. Cả hai đều cương cường, lúc trẻ hòa thuận, về sau hay xích mích nhưng đều được hưởng phú qúy trọn vẹn.

- Tham đồng cung: nên muộn lập gia đình, vợ chồng phải chênh lệch nhau nhiều tuổi. Cả hai đều tài giỏi đảm đang nhưng nếu sớm đường hôn phối tất bị hình khắc.

- Phá đồng cung: vợ chồng đều thao lược nhưng nếu sớm gặp nhau tất phải hình khắc và ít nhất là hai lần lập gia đình.

- Sát đồng cung: hình khắc nhau rất thê thẳm, chồng chung sống với nhau hay sinh tai họa, để rồi xa cách hay hay một sống một chết.

Vũ Khúc ở Cung Huynh Đệ

- Đơn thủ tại Thìn, Tuất: hai người khá giả, nhưng không hợp tính nhau.

- Phủ đồng cung: nhiều nhất là ba người đều giàu có và qúy hiển.

- Tướng đồng cung: hai người.

- Tham đồng cung: nhiều nhất là ba người, sau đều giàu có nhưng sớm xa nhau.

- Phá đồng cung: một người, trong nhà hay có sự xô xát, anh chị em phải xa cách nhau.

- Sát đồng cung: một người, nhưng mang cố tật hay bị hình thương, nếu không sớm xa cách nhau, tất bị hình khác.

Vũ Khúc ở Hạn

- Sáng sủa tốt đẹp: tài lộc hưng vượng, nếu gặp thêm Tà, Hữu, Xương, Khúc lại càng phát đạt, chắc chắn là tài quan song mỹ, nếu gặp thêm Quyền tất được cử đi trọng trấn biên thùy (Vũ Cự Quyền)

- Vũ Lộc Mã Cơ Hỷ Loan: thành gia thất

- Mờ ám xấu xa: mọi sự đều bế tắc, không mắc tai nạn cũng hao tán tiền tài, truất giáng quan chức.

Sao Thái Dương

 Sao Thái Dương có chủ là Tỉ Can, một trong những trung thần bên cạnh Trụ Vương. Tỉ can cả đời quang minh lỗi lạc, sau khi chết được mời lên chưởng quản Sao Thái Dương. Vì vậy, Thái Dương chính là sao của quang minh, bác ái.

 Thái Dương thuộc Dương Hỏa, là sao chủ tại trung thiên, là sao của quan lộc, chủ quý. Là chủ tinh của người sinh ban ngày, rất tốt nếu cư cung Quan Lộc.

Phán đoán sự cát hung của Thái Dương, trước hết phải xem các vị trí miếu vượng, cư các cung Dần Mão Thị Tỵ Ngọ Mùi là cung miếu vượng.

Thích hợp với người sinh ban ngày, người sinh ban ngày gặp Thái Dương miếu vượng thì rất đẹp, nếu lạc hãm thì giảm nhiều sự tốt đẹp. Người sinh ban đêm nếu có gặp Thái Dương miếu vượng cũng bình thường, mà nếu lạc hãm thì hung. Lại phải xem kỹ các Phụ tinh là Sát tinh hội hợp để luận đoán cát hung của Thái Dương.

Thái Dương chủ quý, Hóa Quyền, Hóa Khoa càng tăng thêm tính chất quý hiển của Thái Dương, nhưng cần lưu ý là tại xã hội hiện đại thì chuyện Tài Phú rất quan trọng, cho nên cái sự thanh quý của Thái Dương chưa hẳn đã toàn mỹ. Bởi thế Thái Dương rất cần Hóa Lộc, nếu có Hóa Lộc, Lộc Tồn hội hợp là chân mệnh của Phú Quý vậy.

Thái Dương chiếu khắp vạn vật, cho mà không nhận, cư tại Ngọ cung là cách Nhật Lệ Trung thiên, rực rỡ mà rất thịnh, có khả năng danh lớn hơn lợi, cũng chưa hẳn là kết cấu đẹp. Trong cái ánh sáng ấm áp của Thái Dương, người ta rất thoải mái. Cho nên cần xem xét kỹ tất cả các đặc tính của tinh diệu, được ở trong cái ánh sáng ấm áp của Thái Dương thì là đại phúc hậu vậy.

Thái dương ở trên trời vận hành không ngừng, chiếu sáng mặt đất, cho nên Thái Dương chủ về ĐỘNG, cho mà không nhận. Cho nên các lời bàn về Thái Dương xưa này đều giống nhau ở chỗ cho rằng Thái Dương quan trọng ở chỗ “Quý”, trước phải có “Quý” (danh tiếng) rồi sau mới giầu có. Chẳng qua, nếu không luận như thế thì Thái Dương cũng có một điểm là có bản chất cái Danh lớn hơn cái Lợi. Nhất là Thái Dương càng sáng thì càng rõ bản chất này.

Đặc điểm Sao Thái Dương

- Phương Vị: Nam Đẩu Tinh

- Tính: Dương

- Hành: Hỏa

- Loại: Quý Tinh

- Chủ về: Cha, quan lộc, uy quyền, tài lộc, địa vị, phúc thọ

- Tượng cơ thể: Mắt trái

- Tên gọi tắt: Nhật

Vị trí Thái Dương ở các Cung

- Miếu địa: Cung Tỵ, Ngọ.

- Vượng địa: Cung Dần, Mão, Thìn.

- Đắc địa: Cung Sửu, Mùi.

- Hãm địa: Cung Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý.

Thái Dương có tên thường gọi là Nhật, là một trong 14 chính tinh đồng thời là sao thứ 3 trong 6 sao thuộc chòm sao Tử Vi. Thái Dương chủ về quang minh, bác ái, sáng sủa. Sau đây là đặc điểm khi Thái Dương tọa thủ hoặc đồng cung.

Thái Dương ở Cung Mệnh

Ý nghĩa ngoại hình, tướng mạo, tính cách   


    + Cung Mệnh có Thái Dung, miếu, vượng hay đắc địa tọa thủ, nên thân hình đẫy đà, cao vừa tầm, da hồng hào, mặt vuông vắn đầy đặn, có vẻ uy nghi, (sinh ban đêm: mặt đỏ) mặt sáng, dáng điệu đường hoàng, bệ vệ, rất thông minh, tính thẳng thắn, cương nghị, hơi nóng nảy, nhưng nhân hậu, từ thiện được hưởng giàu sang và sống lâu.

+ Nhật miếu địa, vượng địa, ứng hợp với Dương nam, Dương nữ.

+ Cung Mệnh có Nhật miếu địa hay vượng địa tọa thủ, mà lại sinh ban đêm, nên kém tốt đẹp.

+ Nhật hãm địa, nên thân hình nhỏ nhắn, hơi gầy, cao vừa tầm, da xanh sám mặt choắc có vẻ buồn tẻ, má hóp, mắt lộ, cũng khá thông minh, tính cũng nhân hậu từ thiện, nhưng đôi khi ương gàn, lại không cương nghị, không bền chí, mắt kém, thường có bệnh đau đầu, bệnh thần kinh, bệnh khí huyết, nếu không sớm ly tổ, tất không thể sống lâu được.

+ Sau cùng, về mặt ngũ hành, Thái Dương thuộc Hỏa, thích hợp cho những người mệnh Hỏa, mệnh Thổ và mệnh Mộc vì các hành của ba loại Mệnh này tương hòa và tương sinh với hành Hỏa của Thái Dương. Nhật cũng hợp với trai hơn gái.

- Nam mệnh

+ Nhật, Miếu địa, vấn đề, hay đắc địa thủ Mệnh, gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, là người tài giỏi, thao lược, văn võ kiêm toàn, được hưởng giàu sang đến tột bực, có uy quyền hiển hách, danh tiếng lừng lẫy và sống lâu.

+ Nhật hãm địa, gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, thật là chung thân cùng khốn cô đơn, phải lang thang phiêu bạt, thiếu sức khỏe, thường có bệnh đau đầu, bệnh thần kinh, bệnh khí huyết, mắt rất kém, nếu trong mình không có tật, chân tay không bị thương tàn, chắc chắn là mù lòa. Không những thế, lại còn hay mắc những tai họa khủng khiếp, và dĩ nhiên là yểu tử.

- Nữ mệnh

+ Nhật miếu, vượng hay đắc địa thủ Mệnh là người tài giỏi đảm đang, khí huyết dồi dào, tính cương nghị, nóng nảy, được hưởng phú qúy đến tột bậc, phúc thọ song toàn.

+ Nhật hãm địa là người đa sầu, đa cảm, khéo tay, suốt đời tuy vất vả, mắt kém, hay đau yếu, có nhiều bệnh tật, nhưng vẫn được no cơm ấm áo.

+ Nhật hãm địa, phải sớm ly tổ mới có thể sống lâu được và phải muộn lập gia đình hay lấy kế lấy lẽ mới tránh được mấy độ buồn thương.

+ Nhật hãm địa gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, thật là chung thân cùng khốn cô đơn,

khắc chồng, hại con, lang thang phiêu bạt, thiếu sức khỏe, thường có bệnh đau đầu, bệnh thần kinh, bệnh khí huyết, mắt rất kém, nếu trong mình không có tật, chân tay không bị thương tàn, chắc chắn bị mù lòa. Không những thế, lại còn hay mắc những tai họa khủng khiếp và dĩ nhiên là yểu tử.

Ý nghĩa công danh, tài lộc, phúc thọ

+ Nhật miếu, vượng hay đắc địa, gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, nhất là Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc, Đào, Hồng, Hỷ, tất được hưởng phú qúy đến tột bậc, có uy quyền hiển hách, danh tiếng lừng lẫy và phúc thọ song toàn.

+ Nhật miếu địa, vượng địa gặp Tuần, Triệt án ngữ nên suốt đời chẳng mấy khi được xứng ý toại lòng, thiếu sức khỏe, thường có bệnh đau đầu, bệnh thần kinh, bệnh khí huyết, mắt kém, nếu không sớm ly tổ, lập nghiệp ở phương xa tất không thể sống lâu được.

+ Nhật đắc địa gặp Tuần, Triệt án ngữ, tuy mắt kém, cũng thường có những bệnh đã kể trên và phải sớm ly tổ, nhưng được hưởng phú qúy và phúc thọ song toàn.

+ Nhật đắc địa, nếu không gặp Tuần, Triệt án ngữ, tuy cô bệnh tật, vẫn có tài lộc, nhưng không thể qúy hiển được.

+ Nhật miếu, vượng hay đắc địa, gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, nhất là Kình, Đà, Không, Kiếp, Kỵ, Riêu, Hình, nên suốt đời vất vả, công danh trắc trở, tiền tài khó kiếm, hay đau mắt, thường có bệnh ở trong đầu, lại rất dễ mắc những tai nạn nguy hiểm: tuổi thọ cũng bị chiết giảm.

+ Nhật đắc địa gặp Kỵ đồng cung và không bị Kình Đà, Không, Kiếp, Riêu, Hình xâm phạm, tất được hưởng phú qúy đến tột bậc và sống lâu.

+ Nhật hãm địa về già mới được an nhàn sung sướng.

+ Nhật hãm địa, Hợi, Tý, là người cao khiết, có đức độ, ham chuộng văn chương, triết học, đạo lý.

+ Nhật hãm địa, Thân, Tuất, Tý (Dương cung) cũng không đến nỗi mờ ám xấu xa lắm, nên vẫn được no cơm ấm áo, và chẳng đáng lo ngại nhiều về những bệnh tật.

+ Nhật hãm địa gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, nhất là Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc, Đào, Hồng, Hỷ hay Hỏa Linh, đắc địa, tất cũng có công danh, tiền tài và được tăng phúc tăng thọ.

+ Nhật hãm địa gặp Tuần, Triệt án ngữ, lại thành sáng sủa tốt đẹp, tuy phải sớm ly tổ, nhưng được hưởng giàu sang khỏe mạnh và sống lâu.

+ Nhật hãm địa gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, nhất là Kình, Đà, Không, Kiếp, Kỵ, Riêu, Hình, thật là chung thân cùng khốn cô đơn, phải lang thang phiêu bạt, thiếu sức khỏe, thường có bệnh đau đầu, bệnh thần kinh, bệnh khí huyết mắt rất kém, nếu trong mình không có tật, chân tay không bị thương tàn, chắc chắn là bị mù lòa không những thế hay bị tai họa khủng khiếp, và dĩ nhiên yểu tử.

+ Nhật, dù Miếu địa, Vượng địa, đắc địa hay hãm địa gặp Hình đồng cung, tất mắt có tật, mắt thường bị vật kim khí bén nhọn chạm phải mà có thương tích.

Thái Dương ở Cung Phụ Mẫu

- Tọa thủ tại Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ: hai thân giàu có, qúy hiển và sống lâu, lợi ích cho cha nhiều hơn cho mẹ.

- Tọa thủ tại Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý: hai thân vất và, sớm khắc một trong hai thân. Nên làm con nuôi họ khác.

- Nguyệt đồng cung tại Sửu, Mùi: hai thân bất hòa, cha mẹ khá giả nhưng con không thể ở gần được.

Thái Dương ở Cung Phụ Mẫu

- Thái Dương: mộ cha, nếu lúc sinh ra đời cha đã khuất bóng hay là mộ ông nội nếu cha còn, ông đã mất hay là mộ cụ nội ông nếu cha ông còn, cụ đã mất. Đất bằng phẳng.

- Tọa thủ tại Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ: được hưởng phúc, sống lâu và sung sướng. Họ hàng qúy hiển, giàu sang, có danh giá và uy quyền tế thế.

- Tọa thủ tại Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý: bạc phúc nên tuổi thọ bị chiết giảm. Suốt đời chẳng được xứng ý toại lòng. Nên ly tổ hay ở xa gia đình. Họ hàng càng ngày càng sa sút ly tán, có nhiều người gian quyệt nhưng bần cùng, có người phiêu bạt giang hồ, lại có người mang ác tật hay mắc tai nạn chết một cách thê thảm

- Nguyệt đồng cung: không được hưởng phúc dồi dào, nên hay gặp trở ngại trên đường đời. Nên tập nghiệp ở nơi thật xa quê hương. Họ hàng khá giả, nhưng ly tán. Nếu sinh ban ngày, phải luận đoán trong họ đàn ông, con trai hiển đạt, còn đàn bà con gái vất vả về chồng con, hay yểu tử. Trái lại, nếu sinh ban đêm, phải luận đoán là trong họ đàn bà, con gái giàu có, sung sướng, còn đàn ông con trai cùng khổ phiêu bạt.

Thái Dương ở Cung Điền Trạch

- Đơn thủ tại Thìn, Tỵ, Ngọ: tổ nghiệp để lại rất lớn lao, nhưng về sau sa sút dần.

- Đơn thủ tại Tuất, Hợi, Tý: không có nhà đất. May mắn lắm về già mới có chút ít.

- Cự đồng cung tại Dần hoặc Lương đồng cung tại Mão: giữ vững được tổ nghiệp. Về sau mua tậu thêm được nhiều nhà đất.

- Cự đồng cung tại Thân hoặc Lương đồng cung tại Dậu: buổi đầu phá tán tổ nghiệp, hay phải lìa bỏ tổ nghiệp. Về già mới có nhà đất. nhưng rất ít.

- Nguyệt đồng cung: rất nhiều nhà đất, một phần là của tổ nghiệp để lại, còn một phần do tự tay tạo lập nên.

Thái Dương ở Cung Quan Lộc

- Đơn thủ tại Tý, Ngọ: công danh sớm đạt, văn võ kiêm toàn

- Đơn thủ tại Thìn: cũng như trên nhưng thường bị nhiều người ghen ghét và hay bị bó buộc vào những công việc không hợp với chí hướng.

- Đơn thủ tại Tý: công danh muộn màng, có tài ăn nói, văn chương lỗi lạc

- Đơn thủ tại Tuất, Hợi: gặp nhiều trở ngại trên đường công danh, lúc thiếu thời lật đật vất

vả, đến khi nhiều tuổi mới được xứng ý toại lòng. Có tài, nhưng không gặp cơ hội đi thi thố, nên

suốt đời hậm hực. Tuy vậy, vẫn được nhiều người kính trọng vì có đức độ và có tài văn chương.

- Cự đồng cung tại Dần: công danh hiển hách. Nên chuyên về hình luật, vì có tài luận lý, xét đoán.

- Cự đồng cung tại Thân: công danh thăng giáng thất thường, hay mắc thị phi quân sự. Về già mới được xứng ý toại lòng.

- Lương đồng cung tại Dậu: có tài, nhưng không gặp thời, công danh muộn màng và lật đật. Nên chuyên về y được hay sư phạm.

- Lương đồng cung tại Mão: công danh sớm đạt. Nên chuyên về y dược, sư phạm, sau rất nổi tiếng.

- Nguyệt đồng cung: công danh trắc trở. Lúc thiếu thời khó được xứng ý toại lòng, vì có tài nhưng bất đắc chí, về già mới có chút hư danh. Trường hợp này rất cần gặp Tuần, Triệt án ngữ, tuy buổi đầu mưu cầu công danh thường mắc nhiều trở ngại, nhưng về sau rất hiển hách.

Thái Dương ở Cung Nô Bộc

-Nhật Nguyệt sáng: Người dưới, tôi tớ lạm quyền.

-Nhật, Nguyệt hãm: Tôi tớ ra vào luôn, không ai ở lâu.

Thái Dương ở Cung Thiên Di

- Tọa thủ tại Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ: gặp qúy nhân phù trợ, ra ngoài được nhiều người kính trọng, tài lộc dồi dào.

- Tọa thủ tại Thân, Dậu, Tuất, Hợi: hay gặp tai nạn nhất là về sông nước, nhiều người khinh ghét, sau này chết ở xa nhà.

- Đơn thủ tại Tý: nhiều người mến phục kính trọng

- Nguyệt đồng cung: ra ngoài lợi ích hơn ở nhà, hay gần nơi quyền qúy, được nhiều người tôn phục. Nếu gặp Tuần, Tuần án ngữ hay Kỵ đồng cung lại càng rực rỡ. Lúc chết tuy ở xa nhà nhưng được chôn cất tử tế.

Thái Dương ở Cung Tật Ách

- Căng mạch máu, hay nhức đầu.

- Nguyệt đồng cung: bệnh nạn liên miên

- Sáng sủa, Tuần, Triệt án ngữ: đau mắt, mắt rất kém.

- Sáng sủa, Riêu, Đà, Kỵ: đau mắt,có tật ở mắt.

- Mờ ám, Riêu, Đà, Kỵ: nếu không mù mắt, què chân cũng đau mắt nặng và khản tiếng.

- Thanh Long đồng cung: mác nạn sông nước.

- Hình đồng cung: vật kim khí sắc nhọn đâm vào mắt.

Thái Dương ở Cung Tài Bạch

- Tọa thủ từ Dần đến Ngọ: giàu có lớn, dễ kiếm tiền.

- Tọa thủ từ Thân đến Tý: vất vả mới kiếm được tiền, phải gặp thời loạn hay phải đi ngang về tắt mới kiếm được đủ tiêu dùng, về già mới sung túc.

- Nguyệt đồng cung: trước ít sau nhiều, nếu gặp Kỵ đồng cung hay Tuần, Triệt án ngữ lại càng dễ làm giàu.

Thái Dương ở Cung Tử Tức

- Đơn thủ tại Thìn, Tỵ, Ngọ: có năm con trở lên, sau đều qúy hiến. Con trai nhiều hơn con gái. Nếu sinh con đầu lòng tất nuôi được toàn vẹn.

- Đơn thủ tại Tuất, Hợi Tý: muộn sinh con mới dễ nuôi, sau thường chỉ có ba con.

- Cự đồng cung lại Dần: bốn con, sau đều khá giả.

- Cự đồng cung tại Thân: nhiều nhất là ba con, nếu muộn sinh mới dễ nuôi. Con sinh sau đẻ muộn lại rất qúy hiển.

- Lương đồng cung tại Mão: nhiều nhất là năm con, sau đều khá giả.

- Lương đồng cung tại Dậu: muộn sinh mới có ba con, nếu sớm sinh tất khó nuôi con, khổ sở vì con.

- Nguyệt đồng cung: từ năm con trở lên, có qúy tử.

Thái Dương ở Cung Phu Thê

- Đơn thủ tại Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ: vợ chồng hợp chung sống trong cảnh phú qúy vinh hiển cho đến lúc đầu bạc răng long.

- Đơn thủ tại Dậu, Tuất, Hợi, Tý: việc cưới xin hay trắc trở, có muộn đường hôn phối mới tránh được những sự chẳng lành.

- Cự đồng cung tại Dần: vợ chồng hay có sự bất hòa, nhưng chung sống được với nhau trong cảnh giàu sang cho đến lúc mãn chiều xế bóng.

- Cự đồng cung tại Thân: muộn lập gia đình, may ra mới tránh được sự chia ly.

- Nguyệt đồng cung: nên muộn đường hôn phối, nếu không tất phải xa nhau nhưng cả hai đều qúy hiến, trai hay nể vợ, gái thường sợ chồng.

Thái Dương ở Cung Huynh Đệ

- Đơn thủ tại Thìn, Tỵ, Ngọ: sáu người trở lên, đều qúy hiển, anh em trai nhiều hơn chị em gái.

- Đơn thủ tại Tuất, Hợi, Tý: nhiều nhất là ba người, nhưng bất hòa.

- Cự đồng cung tại Dần: ba người, cũng khá giả.

- Cự đồng cung tại Thân: may mắn lắm mới có hai người, nhưng bất hòa phải xa cách nhau.

- Lương đồng cung tại Mão: năm người, đều quý hiển.

- Nguyệt đồng cung: năm người trở lên, tuy khá giả nhưng khiếm hòa.

Thái Dương khi vào Hạn

- Sáng sủa tốt đẹp: hoạnh phát danh tài.

- Mờ ám xấu xa: đau yếu, có bệnh ở mắt hay đầu (nhức đầu), hao tán tiền tài, sức khỏe của cha, hay chồng (nếu là đàn bà gặp Hạn) suy kém. Nếu chẳng may lại gặp thêm Tang, Kỵ, Đà phải quyết đoán là cha chết, hay chồng chết

- Long Trì: đau mắt

- Long Trì, Thanh Long: trong nhà có người mắc tai nạn sông nước (cung nhập Hạn ứng phương nào, tất tai nạn xảy ra tư phương đó).

- Riêu, Đà, Kỵ: đau mắt nặng, nếu không cũng bị đau yếu, hao tán tiền tài, nếu có quan chức tất bị truất giáng.

- Hỏa, Linh, Kình, Đà: mọi việc đều trắc trở, sức khỏe сủa cha hay chồng rất kém, đau mắt nặng, sản nghiệp tiêu hao.

Recent Articles

TOP